Trong cuốn "Mọi Nơi,” Steve Addison đưa ra tầm nhìn táo bạo và đầy thách thức về phong trào toàn cầu của Đức Chúa Trời, nhắc chúng ta rằng sứ mệnh luôn đòi hỏi mạo hiểm và đức tin. Qua những chuyện thật đầy sức mạnh từ những gia đình kiên cường vượt qua chiến tranh tàn phá ở Iraq đến những người nam tìm thấy hy vọng khi bị án tử hình ở Texas - Addison cho thấy rằng những người bình thường, tin chắc rằng Chúa Giê-su đáng giá hơn mọi điều, chính là động lực thúc đẩy sự lan tỏa phúc âm.
Dựa trên Kinh Thánh và được tái hiện sống động trong thế giới ngày nay, cuốn Mọi Nơi cho thấy các phong trào được khơi dậy thể nào bởi Lời Chúa và Thánh Linh. Sách này cung cấp lộ trình rõ ràng và đầy thuyết phục cho các lãnh đạo hội thánh sẵn sàng vượt qua giai đoạn duy trì hiện trạng và tiến vào phong trào truyền giáo. Nếu bạn sẵn sàng từ bỏ sự thoải mái của hiện trạng để theo đuổi tầm nhìn vinh hiển tối cao của Chúa, thì sách này là tài liệu không thể thiếu.
Dave Ferguson, Giám đốc Điều hành của Exponential; tác giả của các tác phẩm Hero Maker, B.L.E.S.S., và Multiplier
Đầy quyền năng và vô cùng thực tiễn! Hãy đồng hành cùng Steve Addison để thấy cách Đức Chúa Trời đang tể trị các phong trào vương quốc nhằm biến đổi những cuộc đời ở những nơi tưởng bất khả thi: từ phòng giam tử hình tại Texas, cho đến đất nước Lào, hay vùng đất Hồi Giáo Iran—Mọi Nơi! Đây là một trong những sách hay nhất mà tôi từng đọc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa những chuyện sống động với các hành động thực tế mà mỗi môn đồ đều có thể áp dụng.
David Garrison, giáo sỹ; tác giả của tác phẩm Church Planting Movements (Các Phong Trào Mở Hội Thánh) và A Wind in the House of Islam (Luồng Gió Trong Đền Hồi Giáo)
Đầy dẫy những nguyên tắc thuộc linh quan trọng và các minh họa đầy quyền năng từ các phong trào đang bùng lên khắp thế giới, cuốn Mọi Nơi sẽ vừa truyền cảm hứng vừa trang bị cho bạn. Dù bạn mới bước vào công tác nhân bội môn đồ hay đã dấn thân nhiều năm qua, những thách thức và bài học mà sách này mang lại đều có giá trị vô cùng lớn lao.
Cynthia Anderson, người dẫn chương trình podcast Dare to Multiply;
tác giả cuốn sách Tư Duy Của Người Nhân Bội
Trong cuốn Mọi Nơi, Steve Addison đã tạo kiệt tác khi khéo léo đan quyện những câu chuyện cá nhân nhỏ bé vào bức tranh lớn về công việc mà Đức Chúa Trời đang thực hiện khắp thế giới để nhân bội môn đồ và các hội thánh.
Tuy nhiên, sách này không chỉ đơn thuần là tập hợp những câu chuyện truyền cảm hứng. Bởi đây là những chuyện thật về người thật, Steve cũng thẳng thắn trình bày những tội lỗi, vật lộn, thách thức và cả những thất bại mà các cá nhân cũng như các nhóm đã trải qua trên hành trình phục vụ Chúa.
Sự phân tích những nguyên tắc then chốt của ông cho chúng ta thấy thể nào chúng ta có thể học được những khuôn mẫu trong công việc của Đức Chúa Trời trong các bối cảnh khác nhau này rồi tạo thích ứng vào hoàn cảnh riêng của mình. Tôi hết lòng khuyến khích bạn đọc sách này và chia sẻ nó với nhiều người khác.
Stan Parks, đồng tác giả cuốn "Rừng Trong Hạt Giống"
Nhiều lần, khi đọc cuốn Mọi Nơi, tôi nghĩ, Đây chính là hội thánh Tân Ước. Và đó là điểm chính. Và đó là lý do khiến sách truyền cảm hứng. Steve Addison đã rút ra những nguyên tắc quan trọng từ các phong trào này và phát triển chúng dựa trên những khuôn mẫu được bày tỏ trong Kinh Thánh. Ông giúp chúng ta thấy thể nào Chúa Jêsus vẫn tiếp tục xây Hội Thánh Ngài như là phong trào môn đồ hóa truyền giáo ngày nay, thể nào chúng ta có thể tham gia vào sứ mạng của Ngài.
Mỗi bối cảnh được nghiên cứu và ghi chép chuyên nghiệp, và đức tin, sự xả thân và lòng can đảm của những người lãnh đạo sứ mạng này sẽ cảm động bạn đến khóc và làm bùng cháy lòng bạn. Sách này tái xác định Steve Addison là chuyên gia quốc tế về các phong trào, đồng thời mở ra cánh cửa sổ nhìn vào những điều Đức Chúa Trời đang thực hiện khắp thế giới.
John McGinley Hội Thánh Myriad; Tác giả cuốn sách (Thức Tỉnh)
Trước hết, tôi phải thú nhận rằng tôi tán thành bất cứ gì Steve viết mà không thắc mắc gì. Thứ hai, bất cứ gì tôi đã viết về nguyên tắc, Steve đều đã tìm ra cách giải quyết trong thực tiễn, qua nghiên cứu kỹ lưỡng thế giới và lịch sử Hội Thánh để cung cấp cho chúng ta những gương mẫu thế giới thực. Cuốn sách mới nhất này chuyển từ các phong trào nói chung sang khám phá thực tiễn cốt lõi của việc tạo lập phong trào–là đào tạo môn đồ–và nó rất đáng đọc.
Perton Jones, tác giả của Discipology and Church Plantology
Tác tác phẩm khác của Steve Addison
Những Phong Trào Làm Thay Đổi Thế Giới: Năm Chìa Khóa Để Lan Truyền Phúc Âm
Điều Chúa Jêsus Đã Khởi Xướng: Tham Gia Phong Trào, Thay Đổi Thế Giới (2012)
Tiên Phong Các Phong Trào: Sự Lãnh Đạo Nhân Bội Môn Đồ Và Hội Thánh (2015)
Sự Hưng Thịnh Và Suy Tàn Của Các Phong Trào: Cẩm Nang Định Hướng Cho Nhà Lãnh Đạo (2019)
Vai Trò Của Bạn Trong Câu Chuyện Của Đức Chúa Trời: 40 Ngày Từ Sáng Thế Ký Đến Khải Huyền
Công Vụ Các Sứ Đồ Và Phong Trào Của Đức Chúa Trời: Từ Giê-ru-sa-lem Đến Tận Cùng Trái Đất
Mục Lục
Lời Ghi Chú Về Tên Riêng
Lời Tựa – Nathan Shank
Lời Giới Thiệu: Thời Điểm Dám Mạo Hiểm
Thoáng Thấy Thiên Đàng trên Ghế Tử Hình: Texas……………..….…20
Chiến Thắng Qua Nước Mắt: Lào………………………….…….……36
Rời Lớp, Vào Đồng: Indonesia……………….…………………….….49
Sâu và Rộng: Ấn Độ……………………………………..……….…..59
Từ Công Viên Trượt Ván đến Thế Giới: California…………….……..72
Theo Sau Trái: Indonesia…………………………….. ………………83
Thử Thách Lớn, Đức Tin Sâu : Ghana……………………...………….95
Chúng Ta Là Môn Đồ Đấng Mê-si-a: Lebanon…..………………….104
Chúa Tể Trị: Iran………………………………………………………115
Lời Tri Ân
Phụ Lục 1: Chiến Lược
Phụ Lục 2: Các Phương Pháp
Phụ Lục 3: Năm Cấp Độ Lãnh Đạo
Thư Mục Tài Liệu Tham Khảo
Chú Thích
Lưu ý về tên gọi
Nhiều cá nhân được giới thiệu trong sách này đang làm việc trong môi trường
nhạy cảm và nguy hiểm. Để bảo vệ họ, tôi đã sử dụng tên giả (chỉ tên gọi). Khi tôi sử dụng cả tên và họ, đó là tên thật.
Lời Tựa
Tôi biết Steve Addison gần hai thập kỷ. Từ đối thoại đầu tiên, tôi đã thấy ông là người học hỏi không ngừng nghỉ—luôn đặt những câu hỏi sâu sắc và khao khát lắng nghe mọi lời chứng về cách hành động của Vua chúng ta là Chúa Jêsus Christ. Cá nhân tôi đã nhận rất nhiều khích lệ từ Steve; có lúc được ông nhắc nhở bởi sự khôn ngoan và lòng trung tín của ông với Kinh Thánh, và chắc chắn luôn được truyền cảm hứng bởi đời sống bước đi trung tín của ông với Chúa.
Tôi không phải là người duy nhất có cảm nhận đó. Steve có rất nhiều bạn như tôi. Chính từ những mối quan hệ ấy mà sách này được hình thành; những gì bạn sắp đọc chỉ là phần nhỏ trong vô số lời chứng mà Đức Chúa Trời dùng Steve để thu thập và ghi lại.
Khi đọc những chuyện được Steve chọn, bạn sẽ thấy một số khuôn mẫu nhất định. Chẳng hạn, Đức Chúa Trời thường sử dụng người bình thường và khiêm nhường (I Cô-rinh-tô 1:26–31). Việc nhận biết lẽ thật này giúp Steve luôn khoe mình trong Chúa (c.31), với đôi mắt nhìn thấy những người bị thế gian bỏ mặc.
Hơn thế nữa, Steve hiểu rằng sự phát triển nước Trời thường kèm với gian khổ và bắt bớ. Điều này không nên ngạc nhiên, bởi điều này đã được hứa xuyên suốt Tân Ước (Giăng 16:33; II Ti-mô-thê 3:12), tuy nhiên, những chuyện được kể đây là lời nhắc nhở vượt thời gian. Điều có lẽ mới mẻ với bạn trong những gương mẫu này chính là khuôn mẫu của sự nhân bội. Với Steve, khuôn mẫu này không chỉ là điều quan sát được; nó hẳn phải là bông trái của sự nương cậy nơi quyền năng Thánh Linh và lòng trung tín với các nguyên tắc Kinh Thánh.
Khi xem xét những chuyện này, có lẽ bạn hỏi: Chúng ta có mong cách lối nào khác để nhân bội lạ lùng không?
Tôi thường ngạc nhiên thấy nhiều người xem sự nhân bội–thậm chí chẳng ai thèm quan tâm–chỉ như một lựa chọn, một trào lưu nhất thời, một phương pháp, hoặc kết quả của tư duy thực dụng quá lố. Trong khi đó, Kinh Thánh dạy dỗ, minh họa, và thậm chí ra lệnh những điều mà chúng ta vẫn đang thấy mở ra giữa các dân tộc ngày nay: sự nhân bội môn đồ và Hội Thánh.
Khi đọc sách này, bạn có lẽ xem xét câu hỏi: Có phải việc Chúa Jêsus huy động các môn đồ Ngài trong Tân Ước bày tỏ sự nhân bội?
Việc chọn và sai Mười Hai Sứ Đồ trong Lu-ca 9 lập tức theo sau việc huy động “bảy mươi hai người khác” của Chúa Jêsus trong Lu-ca 10. Điều đáng chú ý là, chỉ dẫn đầu tiên Ngài dành cho ba mươi sáu cặp này là họ vẫn chưa đủ! Chúa phán với họ: “Mùa gặt thật trúng, mà con gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình.” (Lu-ca 10:2). Mùa gặt chín vàng đòi hỏi lời thỉnh nguyện như vậy, và Chúa Jêsus rõ ràng mong đợi Chủ mùa gặt sẽ đáp lời. Bài học dành cho những người lao động này là nương cậy nơi Chủ. Lời cầu nguyện ấy đòi hỏi một tầm nhìn vượt xa khả năng và nguồn lực con người, thừa nhận rằng lực lượng gặt hái phải tăng tỷ lệ xứng với cơ hội mùa gặt.
Tương tự vậy, Đại Sứ Mạng cũng hàm ý và thậm chí mong đợi sự nhân bội khi các môn đồ trở thành những người tạo môn đồ. Bí quyết tạo chu kỳ của Ma-thi-ơ 28:18–20 là thẩm quyền và sự hiện diện của Đấng Christ ở cùng mỗi môn đồ để họ tiếp tục tạo nhiều môn đồ khác. Khi chúng ta đi, làm báp-tem, và dạy các môn đồ vâng giữ mọi điều Chúa Jêsus đã truyền–họ cũng nhận sứ mạng đó để môn đồ hóa muôn dân.
Chu kỳ nhân bội này tiếp tục xuyên suốt sách Công Vụ Sứ Đồ, nơi Lu-ca ghi chi tiết sứ mạng và mục vụ được thúc đẩy bởi Thánh Linh. Kết quả gì? Hành trình của những người được sai phái và tản lạc dẫn đến sự tham gia của các dân và vùng chưa được tiếp cận, gieo hạt Phúc Âm, môn đồ hóa, lập Hội Thánh, và nhân bội những nhà lãnh đạo có khả năng lặp lại tiến trình ấy . . . ở mọi nơi.
Đấng có hết thảy thẩm quyền trên trời và dưới đất ở cùng chúng ta cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 28:20). Sứ Mạng của Ngài đứng vững khi các nước đang đợi nghe công bố về sự trị vì của Ngài. Lời kêu gọi đào tạo và nhân bội môn đồ vẫn là trách nhiệm được giao cho mọi thế hệ cho đến ngày Chúa tái lâm. Cuốn sách trước mặt bạn giả định rằng Chúa Jêsus tiếp tục nhân bội môn đồ thông qua những người môn đồ hóa.
Khi đọc sách này, bạn có lẽ xem xét câu hỏi: Đức Chúa Trời ngày nay còn hành động theo cách này không?
Sự tồn tại của những cộng đồng Cơ-Đốc-nhân đông đảo hiện được thấy khắp thế giới là bằng chứng sự nhân bội lịch sử. Hãy xem xét yếu tố dân số thế giới chưa đến 1 tỷ mãi đến năm 1804. Lúc đó, đức tin Tin Lành chủ yếu giới hạn trong số nhỏ dân số, phần lớn tập trung ở Tây bán cầu. Đến năm 2022, dân số thế giới vượt quá tám tỷ, và chín tỷ dự đoán năm 2037. Vậy nghĩa là hai trăm năm qua, hễ ở đâu số người theo Đấng Christ tăng từ 1 đến 2% dân số địa phương, họ bắt buộc phải nhân bội. Điều này đúng với mọi dân số Cơ-Đốc đáng kể khắp thế giới. Hễ ở đâu cộng đồng tín hữu gia tăng tỷ lệ trong dân số, chỉ có một đường duy nhất: môn đồ nhân bội môn đồ.
Lý do điều này khó nắm bắt ở phương Tây là vì nhiều người trong chúng ta chưa từng thấy sự nhân bội như vậy trong đời mình. Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ chưa thấy Hội Thánh tăng trưởng theo kịp sự tăng trưởng dân số từ những năm 1950. Nghĩa là phần lớn dân Mỹ chỉ biết Hội Thánh đang suy giảm. Đôi khi, thực tế này dấy lên sự nghi ngờ hoặc thậm chí chỉ trích những cánh đồng truyền giáo đang chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng. Thật dễ hoài nghi điều mình chưa từng thấy. Tuy nhiên, sự phát triển không thể phủ nhận của Hội Thánh toàn cầu là có thật theo tỷ lệ tăng trưởng, ở điểm nào đó, vượt xa tăng trưởng dân số nói chung.
Đó là lý do những sách thế này thật quan trọng. Xuyên suốt Kinh Thánh, chúng ta được khuyên bảo, khích lệ, và thậm chí được kêu gọi tin cậy Đức Chúa Trời về điều chúng ta không thể, hoặc chưa, chứng kiến. Bất cứ sưu tập nào về những lời hứa của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, lập tức minh chứng rằng đức tin là chất xúc tác cho hành động can đảm. Là tín đồ, chúng ta có thể nắm chắc sự thật rằng Đức Chúa Trời tận hiến cho sứ mạng này; thật ra, bản thể Đức Chúa Trời chúng ta đang bị đe dọa. Hoặc là Ngài giữ lời hứa về một đoàn dân đông vô số từ mọi quốc gia, mọi chi phái, mọi dân tộc, và mọi ngôn ngữ; hoặc là Lời Ngài sẽ bị chứng minh là sai, bản thể Ngài bị nghi ngờ và vinh quang Ngài bị giảm sút (Khải Huyền 7:9–10). Nhưng bởi chúng ta biết Ngài là thành tín, chúng ta có thể đọc những câu chuyện trong những trang sách này với sự tin chắc; chúng cho phép chúng ta “nhìn thấy” chính những lời hứa mà chúng ta từng được kêu gọi để tin cậy.
Cuối cùng, khi đọc sách này, bạn có lẽ hỏi: Tại sao sách này? Điều gì khiến nỗ lực của Steve Addison đáng để chúng ta quan tâm?
Khớp với cả chức vụ của Chúa Jêsus tại Ga-li-lê lẫn gương mẫu của các môn đồ đầu tiên sau Lễ Ngũ Tuần, Steve kêu gọi độc giả suy xét sự phục vụ cá nhân lẫn tập thể từ lúc nhập cuộc đến lúc bước ra. Qua sách này (và thật ra là phần lớn các tác phẩm khác của Steve), ông cổ xướng truyền giáo toàn cầu và công tác mở Hội Thánh. Trong khi nhiều sách tập trung vào các yếu tố đa dạng về truyền giáo hoặc mở Hội Thánh, Steve kêu gọi, thật ra là, lượng giá từng trường hợp nghiên cứu dựa trên bản tóm lược của ông về “phương pháp” đúng Kinh Thánh. Theo Steve, việc tiên phong tìm người hư mất đòi hỏi bước vào những cánh đồng mới và gieo giống Phúc Âm. Việc tiên phong đó phải tiếp tục bằng việc môn đồ hóa, lập Hội Thánh, và phát triển việc lãnh đạo.
Tôi tin điều này quan trọng vì Tân Ước cho thấy sự nhân bội từ Hội Thánh này sang Hội Thánh khác. Từ Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, những tín hữu bị tản lạc đã lập Hội Thánh tại An-ti-ốt (Công Vụ 11:19–21). Từ An-ti-ốt, những người được sai phái lập các Hội Thánh tại Ga-la-ti (Công Vụ 13–14). Từ một Hội Thánh Ga-la-ti tại Lít-trơ, một môn đồ tên Ti-mô-thê đã gia nhập vào nỗ lực cùng các sứ đồ, và các Hội Thánh tại Ma-xê-đoan và A-chai là bông trái (Công Vụ 16–18). Tôi tin chắc bạn sẽ hái trái từ những đánh giá và tận hiến của Steve theo khuôn mẫu này.
Cuối cùng, tác phẩm của Steve (sách này lẫn các sách khác) phô bày sự cân bằng giữa trách nhiệm của môn đồ và sự lệ thuộc hoàn toàn vào Đức Chúa Trời để sanh trái. Tại Nam Á, nơi tôi đã dành phần lớn đời mình để phục vụ, chúng tôi tìm cách động viên lao nhọc gieo Phúc Âm “trong tầm tay” của nước Chúa. Dĩ nhiên, sự phát triển nước Chúa phụ thuộc rất nhiều điều ngoài tầm tay chúng ta. Như sứ đồ Phao-lô nhắc nhở Hội Thánh Cô-rinh-tô, ông và A-bô-lô kẻ trồng người tưới, nhưng chỉ duy Đức Chúa Trời làm cho lớn lên (I Cô-rinh-tô 3:6–7). Cũng vậy với bất cứ việc phục vụ nào cho nước Chúa. Môn đồ đặt tay vào cái cày trách nhiệm trong việc gieo và gặt. Tuy nhiên, chưa từng có nông dân nào trong bất kỳ thế hệ nào có khả năng ban sự sống cho hạt giống. Steve không chỉ nắm thực tế này, mà còn khích lệ những ai khao khát sự nhân bội cùng sự cân bằng ăn khớp giữa sự vâng phục cá nhân và sự nương cậy vào Chủ mùa gặt.
Khi bạn đọc, hãy suy xét sự can đảm cần có để bước vào cánh đồng tiên phong. Hãy suy xét đức tin và sự ưu tiên cần có để kiên trì gieo Phúc Âm giữa vòng người hư mất. Há chẳng phải việc dành thời gian và công sức để chăm sóc người mới tin qua việc môn đồ hóa theo Kinh Thánh đều trong tầm tay chúng ta hay sao? Há chẳng phải chúng ta chịu trách nhiệm áp dụng sự mong đợi của Chúa để hành động, dùng quyền, lãnh đạo, và dạy dỗ khi chúng ta lập hội thánh hay sao? Há chẳng phải việc trang bị và giao phó những người lãnh đạo mới là kết quả của sự đầu tư có chủ đích hay sao?
Steve kêu gọi độc giả của ông chuẩn bị và vâng phục “trong tầm tay.” Cân bằng việc đầu tư có kỷ luật như vậy là đức tin. Duy chỉ Đức Chúa Trời chuẩn bị và cáo trách lòng người. Duy chỉ Đức Chúa Trời ban sự sống cho hạt giống. Duy chỉ Đức Chúa Trời ban sức môn đồ, khai sinh các hội thánh, và ban ân tứ người lãnh đạo để phục vụ. Người tạo ra môn đồ lệ thuộc nơi Đức Chúa Trời đối với những tấn tới của nước Chúa ở “ngoài tầm tay.” Tin vui là chính Đức Chúa Trời đã giao phó sứ mạng và hiện diện trong công tác đó. Đọc và áp dụng sách này, bạn sẽ được truyền cảm hứng và được trang bị để tham gia với Ngài vào việc nhân bội môn đồ và các hội thánh … mọi nơi.
Nathan Shank
Cố vấn cao cấp về Chiến Lược và Thực Thi, Ban Truyền Giáo Quốc Tế;
đồng tác giả cuốn Bốn Cánh Đồng Của Sự Tăng Trưởng Vương Quốc
Lời Giới Thiệu
Đã Đến Lúc Mạo Hiểm
“Bấy giờ Hội Thánh khắp xứ Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri được vui hưởng sự bình an và vững mạnh. Sống kính sợ Chúa và được khích lệ bởi Thánh Linh, nên hội thánh tăng số.”
(Công Vụ Các Sứ Đồ 9:31)
Năm 2016, đúng lúc Joe và Dawn quyết định chuyển đến miền bắc Iraq, tin tức phát trên radio trong xe họ: bọn khủng bố ISIS đã tàn sát dã man những Cơ-Đốc-nhân tại vùng họ sắp đến sống.
Thể nào tin kinh hoàng này ảnh hưởng quyết định của họ? Họ phải làm gì? Dawn không lạ gì với rủi ro phục vụ tại Iraq. Mười năm trước, cô đã làm việc tại quốc gia này, nhưng khi ấy cô độc thân. Giờ đây, cô và Joe đã kết hôn và có hai con nhỏ. Dẫu vậy, họ quyết định không bỏ sự kêu gọi công bố Chúa Jêsus, họ tin chắc Ngài xứng đáng hơn tất cả.
Quyết tâm này là trọng tâm của bất cứ phong trào nào: những con người bình thường tiến đến người xa cách Đức Chúa Trời, bởi Chúa Jêsus xứng đáng hơn tất cả.
Chuyện của Joe và Dawn không phải chuyện cá biệt; nó là khuôn mẫu. Trong vài năm qua, tôi đã tra cứu những dấu hiệu về phong trào của Đức Chúa Trời. Tra cứu này đưa tôi đến nhiều nơi xa xôi–từ nước Lebanon bị tàn phá bởi chiến tranh đến các vùng ngoại ô California, và từ những nhà tù ở Texas đến các làng mạc nước Lào cộng sản. Dù tại Iran Hồi Giáo, Ấn Độ theo Ấn Độ Giáo, hay Indonesia Hồi Giáo, tôi đều thu thập những câu chuyện và bài học áp dụng.
Trong chuyến đi đường bộ mười ngày xuyên Ấn Độ, tôi đã gặp vô số người háo hức chia sẻ chuyện của họ về sự tha thứ, chữa lành, và sự bình an lâu dài trong gia đình. Một người cha từng nghiện rượu nay đã trở thành người chồng và người cha tận tụy–một sự biến đổi mà tôi được nghe lập lại trong nhiều gia đình. Ở nơi khác, một góa phụ bị bỏ rơi bên đường giờ đây đang theo Đấng Christ và đào tạo môn đồ.
Tại Texas, tôi được nghe sự ca ngợi Đức Chúa Trời hát lên từ những kẻ sát nhân chờ tử hình. Những người từng là kẻ thù quyết tử đã trở thành anh em trong Đấng Christ, và nay họ đang nhân bội môn đồ ngay trong những bức tường nhà tù và ra cả ngoài.
Tại Lào, tôi gặp một góa phụ có chồng bị mật vụ chính quyền giết. Trong hai mươi năm, bà tiếp tục công việc của ông là chinh phục môn đồ và lập các hội thánh trong một đất nước bị chế độ Cộng Sản cai trị đầy hận thù.
Sách này đầy những lời chứng tương tự–hết chuyện này đến chuyện khác về Đức Chúa Trời đang hành động, đang uốn nắn từng tấm lòng, từng gia đình, từng mạng lưới, và từng thế hệ. Chính những chuyện biến đổi này chỉ ra cho thấy phong trào độc đáo của Đức Chúa Trời.
Từ Ban Đầu
Khi Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, Ngài đối diện những môn đồ từng bỏ Ngài–những người y như chúng ta. Ngài không chỉ tha thứ họ; Ngài còn biến hóa họ thành phong trào truyền giáo. Chúa Jêsus ban cho họ Lời Ngài, hứa ban Thánh Linh Ngài, và xác định sứ mạng họ. Phúc Âm về sự ăn năn và sự tha tội đã bùng nổ ra từ Giê-ru-sa-lem, lan đến mọi góc nẻo thế giới bấy giờ và khởi đầu sứ mạng đem Phúc Âm đến với mọi nơi và mọi nhóm dân. Được Thánh Linh ban quyền năng, những môn đồ đầu tiên của Chúa Jêsus can đảm công bố phúc âm, báp-tem cho ai tin và dạy họ vâng giữ mọi điều Chúa truyền dạy. Những người bình thường và những chuyện của họ đã lấp đầy các trang Phúc Âm và Công Vụ Các Sứ Đồ. Trong những chuyện này, phong trào của Đức Chúa Trời rõ ràng. Sự hiện diện của phong trào này được nhận biết qua bông trái nó.
Từ ngày Lễ Ngũ Tuần, Lời Chúa đã lan truyền qua những con người bình thường được ban quyền năng bởi Đức Thánh Linh. Bất cứ đâu Lời Chúa và Thánh Linh đến, kết quả là những môn đồ và những hội thánh đem vinh hiển cho Đức Chúa Trời.
Và điều đó vẫn đang xảy ra ngày nay.
Trong tám năm tại miền bắc Iraq, Joe và Dawn đã loan rộng Phúc Âm, nhận diện những người lãnh đạo giữa các môn đồ mới, và huấn luyện họ để tái sản sinh các môn đồ và các hội thánh. Nhưng sống tại đất nước này quá bấp bênh. Phi đạn rơi gần nhà họ. Các môn đồ bị bắt bớ. Một số bị giết. Họ học được rằng, dù hoàn cảnh có vẻ vượt tầm kiểm soát, Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngai Ngài.
Đây là điều Chúa Jêsus đã báo trước (Ma-thi-ơ 24:3–14). Ngài cảnh báo rằng giữa lần đến đầu và lần hai của Ngài sẽ có chiến tranh, đói kém, và thiên tai tàn phá. Đó là lúc mà các môn đồ Ngài bị thù ghét và bắt bớ–một thế giới đầy tiên tri giả, lừa dối và điều ác, nơi tình yêu thương của nhiều người trở nên nguội lạnh. Tuy nhiên, thời khó khăn này không phải là lời cuối. Chúa Jêsus tuyên bố rằng Phúc Âm sẽ được giảng cho tất cả quốc gia, rồi sự cuối cùng mới đến.
Khải tượng cuối cùng, vinh hiển này là chiếc la bàn định hướng của Joe và Dawn. Đó là lý do họ trao đổi sự an toàn nơi quê nhà để lấy sự bất định của miền bắc Iraq đang bị chiến tranh tàn phá và tái định cư gia đình họ ở bên kia địa cầu.
Sự hy sinh của họ thả neo nơi một tương lai chắc chắn, vì chúng ta biết nơi lịch sử đang hướng đến. Sẽ có muôn dân đứng trước ngai Đức Chúa Trời, từ mọi nước, mọi phái, mọi tiếng, và mọi dân, thờ phượng Chiên Con từng bị giết. Đây là điều ngày cuối y vậy. Đó là lý do Chúa Jêsus đã thống khổ và sống lại–để phóng ra một phong trào của Đức Chúa Trời mà sẽ bày tỏ vinh quang Ngài cho mọi nhóm dân và mọi nơi, và từ họ, sẽ quy tụ một dân cho chính Ngài.
Các Phong Trào Ngày Nay
Thế giới mà Chúa Jêsus đã báo trước chính là thế giới chúng ta đang sống. Thật khó làm ngơ gánh nặng những tiêu đề tin tức hằng ngày, sự chống đối văn hóa, và chủ nghĩa yếm thế– tất cả những điều này khiến tình yêu thương của chúng ta thành nguội lạnh. Nhưng đây không phải là lúc rút lui; đây là lúc cơ hội vì Đức Chúa Trời đang hành động. Những khuôn mẫu sẵn đó trong Kinh Thánh, và chúng phơi bày qua các phong trào môn đồ hóa khắp toàn cầu. Chúng ta có sẵn lòng áp dụng những bài học đó không?
Các phong trào môn đồ hóa trong sách này có nhiều dòng các hội thánh từ ít nhất thế hệ thứ tư gồm những tân tín hữu: hội thánh này lập hội thánh khác, hội thánh mới đó lại lập hội thánh khác, và cứ vậy. Bốn thế hệ qua nhiều dòng đó.
Nghiên cứu cho thấy “nhiều phong trào phai nhạt trước khi đạt đến nhiều thế hệ. Nhung những phong trào nào đến được nhiều thế hệ sẽ trở thành một lực lượng mạnh mẽ gần như không thể cản. Hơn ba mươi năm qua, số môn đồ các phong trào này tăng từ 10.000 năm 1995 lên hơn 100 triệu năm 2024. Chỉ riêng những con số này khiến chúng ta phải chú ý.
Hơn ba mươi năm, tôi nghiên cứu các phong trào này, tìm khuôn mẫu, lọc nguyên tắc, chia sẻ bài học và câu chuyện. Sách này kể lại chuyện của chín phong trào không thể cản trên khắp thế giới. Tôi mất một năm cùng những người gieo giống vào cánh đồng của họ, đi, nghe, nhìn, và học. Tôi thực hiện phỏng vấn trực tuyến và, khi có được tài liệu nghiên cứu, tôi đọc chúng.
Sách này là sản phẩm của hành trình đó.
Tôi có hai mong muốn khi viết. Thứ nhất, tôi muốn bạn lắng nghe những người gieo đó và học hỏi từ tấm gương của họ. Họ là chuyên gia. Họ dẫn đường thực hiện điều Đấng Christ ra lệnh, thường phải trả giá rất đắt. Thứ hai, tôi muốn bạn thấy vinh quang Đức Chúa Trời giữa những khó khăn và những chiến thắng của họ. Chúa Jêsus đã sống lại, và Ngài vẫn đang dẫn lối khi Lời Ngài được lan truyền trong quyền năng Thánh Linh qua dân sự Ngài.
Tính Năng Động của Phong Trào
Các phong trào thịnh rồi suy tùy vào sự ăn khớp với đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus. Chính Ngài là tiêu chuẩn. Khi bạn đọc những câu chuyện trong các chương sau, bạn sẽ để ý thấy những khuôn mẫu tái diễn ăn khớp đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus trong các Phúc Âm và Công Vụ Sứ Đồ. Các phong trào được uốn nắn bởi ba yếu tố chính: Căn Cước, Chiến Lược, và Phương Pháp.
Căn Cước
Việc báp-tem và cám dỗ của Chúa Jêsus trong đồng vắng tiết lộ căn cước cốt lõi của phong trào mà Ngài khởi xướng. Đức Con vâng phục Lời của Đức Cha, nương cậy nơi Đức Thánh Linh, và giữ trung tín với sứ mạng truyền giáo cốt lõi. Theo sau chiến thắng của Ngài, Ngài phục hồi các môn đồ bằng cách dạy họ từ Lời Chúa, hứa ban Thánh Linh, và nhắc họ về sứ mạng của họ—là nhân bội môn đồ và hội thánh khắp thế giới.
Vâng phục Lời Cha. Chúa Jêsus đến để làm trọn Kinh Thánh. Ngài đặt đời sống và chức vụ mình dưới thẩm quyền của Lời hằng sống của Đức Chúa Trời, bày tỏ tình yêu Ngài qua sự vâng phục trọn vẹn. Câu chuyện về phong trào của Đức Chúa Trời trong sách Công Vụ là câu chuyện về sự lan rộng Lời Chúa năng động. Lời Chúa lan rộng, gia tăng, nhân bội, và tăng trưởng trong quyền năng, đi đến tận cùng trái đất và chinh phục thế giới. Hễ đâu Lời Chúa đến, bông trái là tân tín đồ và tân hội thánh.
Nương cậy Thánh Linh. Cùng một Thánh Linh vận hành trên mặt nước buổi Sáng Thế cũng là tác nhân sự thụ thai của Chúa Jêsus. Khi Chúa Jêsus được báp-tem, Thánh Linh ngự lên Ngài lúc Ngài đang cầu nguyện, xức dầu Ngài bằng quyền năng và thẩm quyền để thực hiện sứ mạng Ngài. Chúa Jêsus, được đầy dẫy Thánh Linh, đã chiến thắng Sa-tan trong đồng vắng và, trong quyền năng Thánh Linh, quay trở lại để bắt đầu mục vụ Ngài. Tại Lễ Ngũ Tuần, Thánh Linh giáng xuống mỗi môn đồ, và họ công bố sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được tiết lộ qua Chúa Jêsus. Lời Chúa tuôn ra trong quyền năng Thánh Linh. Mỗi tín hữu được phong chức làm nhân chứng cho thế gian. Chính Thánh Linh là Đấng phá vỡ sự an nhàn và thúc đẩy dân sự Chúa bước vào sứ mạng.
Trung tín với sứ mạng. Chuyện Kinh Thánh là chuyện về sứ mạng của Đức Chúa Trời để chuộc lại một dân cho chính Ngài. Qua sự chết của Ngài, Ngài đã mua một dân cho Đức Chúa Trời từ mọi phái, mọi tiếng, mọi dân, và mọi nước. Từ địa vị thẩm quyền tối thượng của Ngài, Chúa Jêsus đã ban cho môn đệ Ngài sứ mạng toàn cầu: môn đồ hóa muôn dân. Trong sách Công Vụ, Thánh Linh và Lời Chúa Trời thúc đẩy sứ mạng đó về phía trước thông qua những con người bình thường. Kết quả là các môn đồ và các hội thánh đem vinh hiển về cho Đức Chúa Trời mọi nơi.
Chiến Lược
Chúa Jêsus bày tỏ Căn Cước Ngài qua hành động. Chúng ta thấy một khuôn mẫu nhất quán trong Chiến Lược mà Chúa Jêsus khai thác và cách Ngài huấn luyện môn đồ.
1. Bước Vào: Chúa Jêsus đến tìm và cứu kẻ hư mất
Các phong trào vượt qua những ranh giới để kết nối với người xa cách Chúa. Họ không chờ người ta đến họ. Thay vì vậy, họ chủ động tìm kiếm người trong cuộc mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn tức là người mở lòng với Phúc Âm và có kết nối tốt trong cộng đồng họ.
2. Phúc Âm: Chúa Jêsus công bố và minh chứng tin mừng về nước Trời
Các phong trào chia sẻ tin mừng của Chúa Jêsus qua sự công bố, minh chứng, và dạy dỗ. Họ trang bị tân môn đồ thành ống dẫn qua đó tin mừng lan đến cộng đồng họ.
3. Môn Đồ: Chúa Jêsus kêu gọi người ta theo và vâng Lời Ngài
Các phong trào dẫn người ta đến đức tin nơi Chúa Jêsus Christ (cải đạo, báp-tem, ân tứ Thánh Linh) và dạy họ vâng theo mạng lệnh Chúa Jêsus, gồm cả mạng lệnh môn đồ hóa.
4. Hội Thánh: Chúa Jêsus gom và xây một cộng đồng mới tập trung vào đời sống và lời dạy của Ngài.
Phong trào giúp tân môn đồ lập các hội thánh theo mẫu sách Công Vụ 2:36–47. Những hội thánh này hoạt động dưới thẩm quyền lời dạy của các sứ đồ, và họ học cầu nguyện, thờ phượng, yêu thương nhau, chăm sóc người nghèo và môn đồ hóa. Người lãnh đạo địa phương được nhận diện và đào tạo.
5. Người lãnh Đạo: Chúa Jêsus làm mẫu và ủy thác người khác làm y vậy
Phong trào truyền giáo huấn luyện người lãnh đạo bản địa và sai phái các đội sứ đồ lưu động vào những cánh đồng mới chưa tiếp cận để tiến bước truyền bá Phúc Âm. Phong trào ôm choàng toàn cảnh, không chỉ một trong năm yếu tố trên—không chỉ cộng đồng địa phương nhưng cả thế giới. Không chỉ truyền giáo nhưng cũng môn đồ hóa. Không chỉ môn đồ hóa mà còn lập các hội thánh. Không chỉ người lãnh đạo mà còn nhân bội người lãnh đạo.
Phương Pháp
Các Phương Pháp truyền đạt và mục vụ của Chúa Jêsus luôn rõ nghĩa theo bối cảnh. Những lời dạy và các câu chuyện của Ngài rất dễ truyền đạt khi phong trào truyền giáo truyền từ người này sang người khác. Phong trào mà Ngài khởi đầu đã lan từ Giê-ru-sa-lem đến La-Mã với ngân sách tối thiểu, chủ yếu qua những gia đình tiếp nhận Phúc Âm.
Chúa Jêsus huấn luyện môn đồ giữa đồng bằng cách dùng những Phương Pháp có thể tái lập và giao chuyển lại. Ngài không áp đặt rào cản không cần thiết đối những ai có thể được tin cậy để tạo môn đồ. Phong trào tấn tới khi các môn đồ tiếp nhận những phương pháp đơn giản, có thể lặp lại, và ít tốn kém để lan rộng Lời Chúa, gây dựng môn đồ mới, củng cố hội thánh, và tuôn ra những tân lãnh đạo.
Dàn bài này về Căn Cước, Chiến Lược, và Phương Pháp cung cấp cho chúng ta khung làm việc để hiểu từng bài học áp dụng. Cuối mỗi chương, có phần suy ngẫm về cách những năng động là bằng chứng trong câu chuyện, cùng với hướng dẫn giúp áp dụng những bài học đã học được. Phần Học Sâu Hơn ở cuối sách sẽ khám phá những chủ đề quan trọng được nêu trong các bài học áp dụng và được thiết kế để thảo luận nhóm, học hỏi, và ứng dụng.
Dám Đổi Mọi Thứ!
Chúa Jêsus kể câu chuyện một người đi xa và giao phó số vàng khác nhau cho ba đầy tớ của mình. Hai trong số đầy tớ đó đầu tư tiền và sinh lợi cho chủ mình. Khi trở về, ông khen và thưởng họ. Rồi người nhận một túi vàng đến và nói: “Lạy chúa . . . tôi biết ông là người nghiêm-nhặt, gặt nơi mình không gieo và thu nơi mình không rải. Nên tôi sợ mà đi giấu vàng của ông dưới đất. Xem này, đây là những gì thuộc về ông” (Ma-thi-ơ 25:24–25).
Đầy tớ này đã lỡ cơ hội mạo hiểm để sinh lợi cho chủ mình. Anh ta không dùng sai số tiền ấy, anh ta chỉ đem chôn nó. Anh ta chọn sự an toàn và đánh mất cơ hội được dự phần vào công việc của chủ.
Chúa Jêsus sẽ trở lại và yêu cầu chúng ta giải trình về cách mình đã sử dụng những gì Ngài giao phó. Theo Chúa không chỉ đơn giản là vượt qua vạch đích đến; Ngài có việc cho chúng ta làm. Chúng ta cần biết mục đích Ngài và liều lĩnh mọi sự để hoàn thành chúng. Chúng ta chỉ có một đời ngắn ngủi để sống và có cả cõi đời đời để ăn mừng chiến thắng. Sách này ngập đầy những con người dám chấp nhận liều lĩnh đó và dâng tất cả cho Chúa Jêsus. Chúng ta sẽ làm vậy chứ?
Đức Chúa Trời đang hành động trên thế giới để gom nhóm một dân cho chính Ngài. Ngài mời gọi chúng ta dự phần vào điều Ngài đang thực hiện. Đó chính là câu chuyện của Đức Chúa Trời, nhưng tất cả chúng ta đều có phần đóng góp. Có lẽ bạn không được kêu gọi phục vụ giữa vùng chiến sự, làm mục vụ nơi tử tù, hoặc mở hội thánh dưới sự cai trị của chế độ cộng sản hận thù. Có lẽ nên bắt đầu ở gần nhà hơn: với gia đình bạn, trên đường nơi mình ở, tại sở làm, hoặc giữa bạn hữu. Tất cả chúng ta đều có sự kêu gọi và khả năng khác nhau. Câu hỏi quan là: Bạn sẽ làm gì với những gì Đức Chúa Trời ban cho bạn?
Hãy đọc những câu chuyện này theo bất kỳ thứ tự nào bạn muốn. Hãy học những bài học. Hãy để cảm hứng bởi cách Đức Chúa Trời sử dụng những con người bình thường để hoàn thành sứ mạng Ngài—tức là môn đồ hóa và lập các hội thánh cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Mọi nơi.
1. Một Thoáng Thiên Đàng Khu Tử Hình
Texas
“Ngài sai Ta đến rịt lành những lòng tan vỡ; công bố tự do cho kẻ bị bắt giữ, Và giải phóng tù nhân” (Ê-sai 61:1)
Có 1,8 triệu người sau các song sắt tù tại Hoa Kỳ, khiến quốc gia này là nơi có số tù nhân lớn nhất thế giới. Tại Texas—tiểu bang có số tù nhân đông nhất—những tội phạm khét tiếng nhất bị giam giữ trong khu tử hình Polunsky.
Tôi bước vào khu tử tù và đứng sau vạch vàng ngăn tôi khỏi những song sắt. Đó là lần đầu tôi vào trong bất cứ nhà tù nào, lập tức những con số thống kê trở thành thực tại lạnh lẽo, nặng nề.
Tám ông trong đồng phục tù màu trắng đứng chờ—người da trắng, da đen, Latinh, và Châu Á, một bức tranh đa sắc của những khuôn mặt bị án, mỗi người đều bị án tử hình vì giết người.
Từ sau những dãy song sắt ai đó kêu lên: “Chúng tôi có thể hát chứ?”
Những lời quen thuộc này vang vọng khu tù đó khi họ hát Bài Cầu Nguyện của Chúa.
Tôi cứ tưởng thấy tuyệt vọng và đổ nát, nhưng bên kia những song sắt là những người sống động với sự sống của Đấng Christ. Trong hành lang ảm đạm ấy, tôi nếm được một phần thiên đàng trong khu tử tù, vinh quang Chúa chiếu sáng từ mỗi tội nhân. Tôi ước bước qua vạch vàng ấy, và ôm choàng anh em mình.
“Chúng tôi không gọi đây là khu tử tù,” họ bảo tôi. “Chúng tôi gọi nó là khu sự sống. Nơi đây chúng tôi đã tìm được Chúa Jêsus.”
Mỗi người đang chờ ngày tử hình họ—một chờ đợi vài tháng hoặc nhiều thập kỷ. Khi giờ đến, họ đối diện tử thần bằng tiêm thuốc độc. Nhưng mỗi lần lính canh dẫn độ một anh em bị án, các môn đồ còn lại đứng trong phòng giam mình và hát bài “Ơn Lạ Lùng” (Amazing Grace) khi người ấy rời đi.
Trong ba năm qua, hai mươi trong số hai mươi bốn người bị xử tử tại nhà tù Polunsky là những người theo Chúa Jêsus là những người đã tiếp nhận đức tin ngay trong khu tử tù. Hiện nay, tám mươi trong số 168 người chờ xử tử là tín hữu mà đã lập các hội thánh tại sáu trong mười bốn khu trong nhà tù Polunsky.
Một chỗ khác, ở một trong những khu an ninh tối đa khác, các hội thánh do tù nhân lãnh đạo thường xuyên nhóm lại trong các phòng sinh hoạt chung. Tối hôm chúng tôi ở đó, chúng tôi hòa cùng các môn đồ trong nhà nguyện nhà tù. Khi ban nhạc chơi và ban hát dẫn, 150 ông đồng thanh cất tiếng thờ phượng Đức Chúa Trời—một thoáng nhìn khác của thiên đàng, xác định rằng đây không chỉ là câu chuyện về vài cá nhân đặc biệt.
Đây là câu chuyện về một phong trào của Đức Chúa Trời.
Don Waybright: Người Ngoài Cuộc
Phong trào này bắt đầu năm 2012, khi Nhà Tù Darrington hợp tác với một chủng viện địa phương để mở chương trình bốn năm Học Kinh Thánh. Đây không phải chương trình thông thường; nó đòi hỏi đặc biệt: chỉ tù nhân án hai mươi lăm năm trở lên mới được nộp đơn. Người tốt nghiệp được công nhận là mục vụ viên và có thể được sai phái đến các cơ sở toàn tiểu bang đó.
Don Waybright, một mục sư truyền giáo đồng thời là giảng viên chủng viện, vốn là người ngoài hệ thống đó, nắm cơ hội này để dạy khóa học tập trung đặc biệt vào môn đồ hóa và lập hội thánh. Don không chỉ giảng, ông hướng dẫn học sinh xuyên suốt các sách Phúc Âm và Công Vụ, nhìn cách Chúa Jêsus và các môn đồ thực hiện sứ mạng họ. Khi đọc bản văn, họ trả lời những câu hỏi này:
Thể nào họ bước vào những cánh đồng chưa được tiếp cận?
Điều gì họ nói?
Thể nào họ môn đồ hóa?
Thể nào họ mở hội thánh?
Thể nào họ nhân bội môn đồ?
Thể nào chúng ta sẽ vâng theo điều chúng ta đã học được tại đây trong nhà tù?
Với chiến lược rõ ràng, Don trang bị cho họ những phương pháp đơn giản, có thể tái tạo để chia sẻ Phúc Âm. Điều này bao gồm việc đọc Kinh Thánh để môn đồ hóa theo khuôn mẫu 3-Phần, cùng những bước thực tiễn để lập các hội thánh lành mạnh và phát triển lãnh đạo. Khi ông cố vấn học sinh, họ lập tức biến những điều mình học thành hành động.
Don khám phá rằng những tù nhân dễ tiếp thu nhất là ở khu biệt giam, bị cô lập trong phòng bê-tông ngang-năm-dài-sáu-bộ Anh suốt hai mươi ba giờ mỗi ngày. Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản việc môn đồ hóa. Thay vì vậy, họ la to Phúc Âm cho lẫn nhau từ những phòng họ. Nhiều tù nhân khác đến với Đấng Christ chỉ bởi lắng nghe họ.
Đến năm 2019, nhà tù đó có 290 hội thánh nhóm lại trong mỗi phòng sinh hoạt chung, và hơn bảy trăm người được báp-tem. Khi các tín hữu được chuyển đến những cơ sở giam giữ khác, phong trào này lan rộng, biến toàn bộ hệ thống nhà tù tiểu bang đó thành cánh đồng truyền giáo mới rộng lớn.
David Ludwick: Người Trong Cuộc
David Ludwick, kẻ sát nhân bị án tối thiểu bốn mươi năm tù, là học sinh chương trình chủng viện của Don và trở thành người tiên phong của phong trào này ngay trong tù. Rồi Ludwich được ủy nhiệm đến Coffield—nhà tù lớn nhất tiểu bang Texas, chứa 4.800 tù nhân—nơi ông hợp tác với Brandon Authement, một mục vụ viên đồng sự và là người có năng lực tổ chức và điều phối rất tốt.
David và Brandon mở ra chương trình được thiết kế để nhân bội môn đồ mới, tổ chức huấn luyện quanh 5-Cấp Lãnh Đạo trong phong trào nhân bội. Cấp đầu tiên học vâng phục các mệnh lệnh của Đấng Christ: ăn năn và tin, được báp-tem, yêu thương nhau, mừng Tiệc Thánh, dâng hiến rộng rãi, môn đồ hóa.
Kết quả rất đều đặn: Mỗi lần khóa học mở ra, thông thường họ báp-têm năm mươi đến bảy mươi tân tín hữu chỉ sau bài học thứ hai. Những môn đồ này sống bày tỏ đức tin họ trong phòng sinh hoạt chung. Trong tù, cuộc sống xoay quanh không gian công cộng, nơi các tù nhân tụ tập xem TV hoặc chơi bài. Nhưng tại nhiều cơ sở giam giữ, những phòng đó đã được biến đổi, trở thành trung tâm của phong trào này. Chúng hiện là điểm tập trung nơi Phúc Âm được lan truyền, môn đồ được đào tạo, các hội thánh được mở, và các nhà lãnh đạo được huấn luyện. Có lần khác, một anh em da đen làm báp-tem cho một tù nhân là cựu thành viên Aryan Nation (da trắng kỳ thị) mà chính anh đã dẫn đến với Đấng Christ. Một dịp khác, những tù nhân người Mễ đã liều mạng họ để được báp-tem sau khi công khai bỏ làm thành viên băng đảng họ.
Việc huấn luyện của David và Brandon đã được nhà tù đưa vào chương trình GRAD (Gang Renunciation and Disassociation Program—Chương Trình Từ Bỏ Và Tách Khỏi Băng Đảng). Tù nhân nào muốn bỏ cuộc đời tội ác và thành viên băng đảng có thể ghi danh vào GRAD có mở các khóa học kỹ năng sống. David và Brandon bảo đảm rằng bất kể khóa học-kỹ-năng-sống nào họ được giao dạy, rốt cuộc họ đều huấn luyện các học viên về nhân bội môn đồ và hội thánh qua sử dụng chiến lược 4-Cánh-Đồng.
Dù gặp chống đối từ một số tuyên úy truyền thống và các mục vụ đang có, ban quản trị nhà tù tiếp tục ủng hộ chương trình đó sau khi chứng kiến những hiệu quả nó. “Bạn có thể nghe Phúc Âm được chia sẻ 24/7 trong nhà tù này,” người quản giáo nhà tù Coffield nói. “Các nhân viên của tôi được an toàn. Đây từng là một trong những nhà tù nguy hiểm nhất ở Texas. Không ai muốn bị chuyển đến đây. Bây giờ, tù nhân lại muốn được chuyển đến đây.”
Terry Solley: Phá Vòng Luẩn Quẩn
Terry Solley mười bốn tuổi khi cha anh đặt súng lục vào tay anh và đưa anh đi thực hiện vụ cướp có vũ khí đầu tiên.
Đến mười tám tuổi, anh đã thụ án mười một năm tù vì nhiều tội danh khác nhau. Anh được thả khi anh hai mươi chín tuổi và chỉ sống ngoài xã hội chỉ hơn một năm trước khi anh cùng cha mình bị bắt lại vì cướp ngân hàng Wells Fargo. Terry mất thêm mười bảy năm nữa trong tù, tổng cộng hai mươi tám năm sau song sắt.
Trong lần tù đầu tiên, Terry gia nhập một băng đảng và leo dần lên các chức. Anh mất tám năm rưỡi trong biệt giam vì đe dọa lệnh và an toàn trại tù. Trong thời gian đó, anh trải qua hai mươi ba giờ một ngày một mình, bị khóa trong phòng.
Dù Terry từng đi nhà thờ khi nhỏ, điều đó chấm dứt khi anh bắt đầu cướp ngân hàng. Tuy nhiên, trong thời gian bị biệt giam và chờ xét xử cho lần thụ án thứ hai, Chúa khiến anh chú ý. Lúc ấy, Terry hiểu Phúc Âm và có lẽ sẽ nói rằng, “Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế của tôi.” Nhưng khi khách viếng vào đến khu biệt giam và chia sẻ Phúc Âm, anh nhận ra rằng anh không chỉ cần một Đấng Cứu Thế—anh cần một Chúa. Và anh đầu phục đời mình cho Đấng Christ.
Sau khi bị tuyên án, cần hai năm rưỡi nữa trước khi Terry được chuyển từ khu biệt giam sang khu tù chung. Việc chuyển đổi đó đưa anh trực tiếp vào hệ thống môn đồ hóa của chủng viện nhà tù, được khởi xướng bởi người ngoại cuộc Don Waybright và người trong cuộc David Ludwick. Terry gia nhập và lập tức biến những điều mình học thành hành động. Anh chứng minh sự biến đổi của mình bằng việc trung tín chia sẻ Phúc Âm, và chẳng bao lâu, các môn đồ nhóm lại mỗi phòng tù sinh hoạt chung. Terry chứng tỏ anh sẵn sàng ứng phó áp lực khắc nghiệt và môi trường đầy biến động của một trong những cánh đồng truyền giáo khó khăn nhất tiểu bang đó.
Năm 2020, Terry được chuyển từ nhà tù Darrington đến phục vụ tại Khu Tử Tù Polunsky, ở với những kẻ bị án tận đến lúc những bước cuối của họ.
Một tù nhân tên Anibal, ở khu tử tù suốt hai mươi ba năm vì giết một đồng tù khác, nhận ra Terry từ hai mươi ba năm trước khi họ là những băng đảng đối địch. Sửng sốt vì sự thay đổi triệt để trong Terry, Anibal dâng đời mình cho Đấng Christ và trở thành “người bình an,” qua đó Phúc Âm được lan truyền đến nhiều tù nhân khác.
Khu tử tù được chia thành nhiều khu nơi mười bốn người sống chung trong những phòng giam riêng nhưng chung phòng sinh hoạt ban ngày. Nhờ nỗ lực của Terry và một đồng tù tên Troop Foster, các hội thánh nay đang nhóm lại mỗi ngày tại sáu khu tử tù.
Terry giải thích sức mạnh của mô hình này: “Trong tù, hội thánh là nhóm bốn hoặc năm người ngồi quanh một cái bàn, học Lời Chúa, thờ phượng cùng nhau, dự Tiệc Thánh cùng nhau, giao mỗi người trách nhiệm, làm gương điều sống theo Chúa Jêsus là sao.” Anh nhấn mạnh rằng hiệu quả của hội thánh đến từ việc chính các người lãnh đạo hội thánh, mài giũa và môn đồ hóa lẫn nhau. Chiến lược này đã dẫn đến môn đồ hóa tại bốn mươi hai trong tổng số 104 nhà tù tiểu bang Texas.
“Nếu một người đến với Đấng Christ, cả thế giới quan hệ của người đó cũng được tác động,” Terry nói, diễn tả ảnh hưởng gợn sóng. “Nhà tù cho bạn ý niệm điều gì mang nghĩa con người, nhưng Kinh Thánh đề ra tầm nhìn khác hoàn toàn. Chúng tôi cho người ta cơ hội sống cuộc đời họ là người của Chúa ngay trong tù. Chúng tôi có những người dâng đời họ cho Chúa trong tù, và vợ con họ thấy sự thay đổi. Họ đến với Chúa, và họ gia nhập cộng đồng Cơ-Đốc-nhân bên ngoài tù.”
Trong ghi chú cá nhân, Terry kể lại rằng cha anh, là người trong chương trình chủng viện ở Darrington, dâng đời ông cho Chúa: “Cha tôi nhìn xem tôi và thấy đứa con trai khác hẳn đứa ông đã nuôi dưỡng. Cha tôi dâng đời ông cho Chúa vì ông thấy thay đổi tích cực trong tôi. Ông sáu mươi tuổi. Thời gian ngắn sau đó, ông chết vì ung thư giai đoạn bốn.”
Terry hiện ra tù và nâng đỡ những phạm nhân dài hạn tù khi họ hội nhập xã hội. Sứ mạng ông rõ ràng: “Chúng tôi muốn những người này mang Phúc Âm trở lại các nhà tù và các đường phố. Chúng tôi muốn bẻ gãy vòng luẩn quẩn xoay quanh thế hệ.”
Khát vọng đó được thúc đẩy bởi trải nghiệm của chính anh: “Tôi làm đau lòng vợ tôi khi bỏ lại cô ấy một mình với đứa con gái năm-tháng-tuổi của chúng tôi. Nhiều ông khác bỏ lại những người vợ đau lòng và con cái họ không cha. Chúa đã thay đổi tôi; Ngài hòa giải gia đình tôi, và phục hồi mối quan hệ với con gái tôi. Mỗi khi nghĩ đến nó, lại thêm thúc giục tôi làm điều tôi làm. Tôi không muốn thêm người vợ nào nữa đau lòng. Tôi không muốn đứa trẻ nào nữa lớn lên không cha.”
Troop Foster: Từ Thù Hận Đến Hy Vọng
Troop Foster, người tiên phong của phong trào tại nhà tù Darrington, được chuyển trại cùng Terry đến làm việc tại khu tử tù.“Phần lớn đời tôi là thảm họa nghiện ma túy và rượu chè, băng đảng và tù tội,” anh thừa nhận: “Tôi từng là kẻ theo chủ nghĩa thượng đẳng da trắng. Băng đảng tôi là Aryan Brotherhood.” Mỗi lần được ra tù, Troop cố làm lại cuộc đời không Chúa nhưng anh luôn trở lại ma túy. Cha mẹ và người vợ tuyệt vọng của anh hỏi: “Tại sao cứ ra tù, phục hồi, rồi nhảy lại vào vực chết?” Anh không có câu trả lời.
Khi Troop phạm tội tử hình, hai thẩm phán ngăn án tử, và chánh án tuyên án anh bốn mươi năm tù. Anh sẽ là bảy mươi bảy tuổi khi anh lần đầu đủ điều kiện xét ân xá. Troop mất tám năm trong khu biệt giam vì tham gia Aryan Brotherhood. Mỗi ngày, anh được một tiếng trong phòng sinh hoạt chung, một mình. Trong thời gian biệt giam, anh mất hai người thân yêu nhất. Mẹ anh chết, theo sau là con trai tuổi thiếu niên của anh. Cô đơn trên thế gian này, Troop cảm thấy không còn lý do gì đi tiếp. Anh nghĩ đến tự tử, nhưng anh nhớ lại Chúa Jêsus từ thở trẻ của anh. Dù cha mẹ anh không bao giờ đi nhà thờ, họ vẫn gửi anh đến đó. Cô đơn trong phòng giam, cuối cùng anh đầu phục. Anh quỳ và cầu nguyện lời cầu nguyện đơn sơ, tuyệt vọng: “Chúa ôi, Ngài phải làm điều này. Con không thể làm được. Nếu Ngài là thật, hãy bày tỏ cho con.”
Khi anh ngả lưng lại trên giường, anh biết điều gì đó đã thay đổi: “Tôi cảm thấy Chúa phán, ‘Con từng nói con biết Ta từ lâu, nhưng con chưa từng theo Ta.’” Anh ngồi dậy và bắt đầu quăng tội lỗi đi—quăng hàng chục tạp chí khiêu dâm dưới cửa phòng giam. Đầu phục rồi, anh bắt đầu đọc Lời Chúa, và đời anh thay đổi. Sự thèm muốn ma túy biến mất, và anh nhận ra: “Cả đời tôi, tôi bỏ lỡ mối tương giao với Đấng Sáng Tạo tôi.”
Để ra khỏi khu biệt giam, Troop phải qua chương trình GRAD. Nhưng danh sách chờ là sáu năm dài. Trong lúc chờ đó, anh được chẩn đoán bị ung thư giai đoạn bốn. Anh mất một năm nằm bệnh viện tù. Trọng lượng anh giảm còn 120 pao (55 kg), và khi ung thư di căn, anh được chuyển sang khu chăm sóc chờ chết.
Ung thư không lay động Troop. Dù phải vật lộn với hóa trị, bệnh đau hằng ngày, rụng tóc, và nhìn răng rớt ra, anh được bình an lần đầu tiên trong đời. Anh sẵn sàng ra đi và ở với Chúa Jêsus. Nhưng bà ngoại luôn cầu nguyện của anh đã can thiệp: “Con sẽ không bỏ cuộc! Bà không quan tâm bác sĩ nói gì. Con sẽ trở lại và được điều trị và để Chúa Jêsus làm điều Chúa Jêsus làm!”
Troop nghe lời bà. “Khi ung thư tôi được lành, tôi không vui,” anh nhớ lại. “Tôi nói với Chúa, tôi không xứng đáng điều này! Sao không chữa lành đứa trẻ vô tội thay vì tôi?”
Sau khi hoàn thành chương trình GRAD, anh được đưa trở lại đời tù sau tám năm biệt giam. “Thật là khó,” anh thừa nhận: “Trong khu biệt giam, tôi cảm thấy như Giô-na trong bụng cá lớn. Rốt cuộc cá cũng nhả tôi ra, tôi có một số lựa chọn.” Anh thiếu kiến thức về điều gì nghĩa là theo Chúa và kế hoạch gì Chúa Trời có cho đời anh. “Tôi không biết rằng Chúa muốn tôi nói cho người khác biết về Ngài.”
Rồi anh nghe về chủng viện mới mở tại Darrington. Thấy như câu trả lời cho lời cầu nguyện. Dù anh là học sinh trung học yếu, Chúa ban cho Troop đam mê học hành, anh đạt điểm rất tốt tại chủng viện. “Chúa nắn đúc và uốn hình tôi. Ngài ban cho tôi một nhóm anh em đầu tư vào đời tôi. Họ yêu thương tôi—điều mà tôi chưa từng trải nghiệm trong đời mình. Tôi biết điều gì mình muốn làm. Chúa dẫn tôi trở lại nơi từ đó tôi đã bước ra.”
Ba năm sau, Troop ở trong số những mục vụ viên tuyến đầu được cử đến những người trong khu biệt giam: những kẻ gây rối, những thủ lĩnh băng đảng, những kẻ buôn ma túy, và những kẻ bạo lực. Y như anh trước đây. Anh nhanh chóng tập trung vào Pancho, là thành viên băng đảng Mesquite Mafia, bị tù vì giết người và đang bị biệt giam suốt mười bảy năm. Ban đầu, Pancho không tỏ ra quan tâm, nhưng rồi Troop thấy hắn đọc cuốn Kinh Thánh của anh. Dù vẫn còn là thành viên băng đảng, Pancho xin được báp-tem và được làm báp-tem trong khi mang xiềng. Nhiều người thắc mắc thể nào Pancho vừa là thành viên băng đảng vừa là người theo Chúa được? “Đời băng đảng là tất cả gì Pancho từng biết,” Troop giải thích. “Các chú bác, anh em ruột, anh em họ của ảnh đều là thành viên băng đảng. Bỏ đi nghĩa là mất tất cả mọi người. Nhưng tôi biết chỉ là vấn đề thời gian trước khi Pancho bỏ băng đảng đó.” Sáu tháng sau, thời gian đó xảy ra.
Pancho nay đang trong chương trình GRAD, học cách chia sẻ đức tin và môn đồ hóa. “Người như Pancho bị dẫn vào băng đảng, vậy ai đó phải dẫn họ ra,” Troop nói. “Điều đó đòi hỏi vừa phải có tôn trọng vừa phải có thách thức.”
Anh hỏi những người như Pancho vài câu hỏi cốt lõi như:
Tại sao anh buộc vào cái đang nhấn chìm anh?
Tại sao anh phục vụ gia đình băng đảng này thay vì gia đình anh?
Anh muốn con gái anh hẹn hò với một thành viên băng đảng không?
Anh muốn con trai anh trở thành thành viên băng đảng không?
Troop thúc giục họ nuôi dạy con cái họ trong Đấng Christ. Anh được cơ hội chứng kiến những người nam được tự do khi họ đầu phục đời họ cho Chúa và lập tức bắt đầu môn đồ hóa ngay nơi họ ở.
Khi Terry và Troop bắt đầu mục vụ tại khu tử tù, những người bị biệt giam không được phép rời phòng giam; thật rất nguy hiểm. Nên Terry và Troop dàn dựng ngoài phòng giam họ và dạy họ cách theo Chúa Jêsus. Hai ông nhóm hội thánh với từng người đứng sau song sắt, la lớn để tham gia. Những người đó học hát thánh ca, kết cuộc là đổ đầy ngày tháng họ sự thờ phượng và ca hát. Họ lập một dạng hội thánh mà nay thờ phượng hằng ngày.
Troop nhớ một tù nhân tên Tracy Beattie, là người bị rối loạn trầm trọng. Anh ngồi trong phòng hàng giờ nói chuyện với ai đó không có đó, và anh la hét các tù nhân khác. Cả quản giáo lẫn tù nhân đều ghét anh vì anh luôn gây rối và từ chối tắm rửa. “Chúng tôi đứng ngoài phòng giam anh ấy, và đôi khi anh nói chuyện, đối khi chỉ la hét chúng tôi,” Troop nhớ lại.
Khi Tracy nhận được ngày giờ tử hình, anh được chuyển đến khu anh được giám sát suốt. Những tù nhân khu đó, vốn trước đã chịu đựng tiếng la hét và sự thiếu vệ sinh của Tracy, đều đợi điều tồi tệ nhất.
Có hai môn đồ Chúa khu đó, cũng đang chờ tử hình. Troop xin ban quản lý đặt Tracy ở giữa họ, và hai người đó đồng ý “yêu thương anh ấy.” Họ bắt đầu chia sẻ thức ăn họ với Tracy và khơi mào chuyện trò với anh. Mỗi khi Tracy bắt đầu nói chuyện một mình, một trong hai người nói lớn, “Anh đang nói chuyện với ai vậy, người anh em?” rồi bắt đầu cuộc trò chuyện.
Chúa làm phép lạ. Tracy đầu phục đời mình cho Đấng Christ và chẳng bao lâu hát thờ phượng trong phòng sinh hoạt chung. Terry Solley báp-tem cho anh hôm Chúa nhật; anh bị tử hình hôm thứ Ba kế đó. Tracy Beattie, người từng được biết đến như kẻ sát nhân và “thằng điên” bước vào phòng hành quyết hát vang thánh ca “Ơn Lạ Lùng.”
Lòng Khiêm Nhường Và Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời
Tại khu tử tù, tôi thấy sự sống và tình yêu của Đức Chúa Trời phơi bày trong chỗ đen tối nhất. Các phong trào dựa vào chiến lược và phương pháp, nhưng chúng chẳng là gì nếu không có sự sống mà Đấng Christ đem đến. Chúng là kết quả tích lũy từ vô số những người con hoang đàng trở về nhà với Cha và học đường lối Ngài.
Trong thế giới phương Tây, có rất ít phong trào nhân bội môn đồ và hội thánh. Phong trào nhà tù Texas là ví dụ đẹp nhất. Nó bày tỏ lòng khiêm nhường của Đức Chúa Trời rằng Ngài chọn những kẻ ngu dại nhất để bày tỏ vinh hiển Ngài cho những kẻ khôn ngoan.
Điều Đức Chúa Trời có thể làm trong những bức tường tử tù, Ngài có thể làm bất cứ đâu.
_________________
______________________
Suy Ngẫm Và Hành Động
Dù câu chuyện này độc đáo, những bài học của nó là phổ quát. Đây không chỉ là chuyện tù. Đây là chuyện về Đức Chúa Trời và thể nào Ngài hành động trong thế giới này. Để áp dụng những bài học này, phần này thách thức bạn suy ngẫm về tính năng động phong trào được trình bày trong câu chuyện này và sống thực hành chúng trong chính bối cảnh của bạn.
Khi suy ngẫm, hãy ghi nhớ ba cốt lõi của một phong trào nhân bội:
Căn Cước của phong trào phản chiếu đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus: vâng phục Lời Cha, nương cậy Thánh Linh, và trung tín với sứ mạng.
Chiến Lược của phong trào cung cấp đường lối rõ ràng để bày tỏ Căn Cước ấy qua hành động—bước vào, gieo phúc âm, môn đồ hóa, lập hội thánh, và nhân bội lãnh đạo.
Phương pháp phục vụ cho chiến lược và cần phải: Đơn giản, Hiệu quả, Dễ lan truyền.
Tính Năng Động của Phong Trào
Phong trào là công việc của Đức Chúa Trời. Công việc tại Texas được khởi đầu bởi Đức Chúa Trời công bình và yêu thương là Đấng đã tha thứ những người này qua Đấng Christ Đấng—là tội nhân bị án đã gánh tội lỗi họ. Căn Cước của phong trào không dựa vào lối sống nhà tù nhưng được hình thành bởi Lời hằng sống của Đức Chúa Trời và quyền năng qua Thánh Linh. Những người này ở tận cùng tuyệt vọng, đối diện án tù hoặc tử hình. Họ đã làm tổn thương người thân và bị kẹt trong cuộc đời tội ác và bạo lực. Họ muốn một lối thoát—không phải sự tha thứ rẻ tiền mà là một ơn sủng thay đổi mọi điều.
Phong Trào Được Duy Trì Bởi Lãnh Đạo Trong Cuộc Và Ngoài Cuộc. Mục vụ nhà tù truyền thống hỏi: “Điều gì chúng tôi (người ngoài cuộc) có thể làm để phục vụ tù nhân (người trong cuộc)?” Mở đầu phong trào hỏi: “Thể nào Lời Chúa và Thánh Linh có thể hành động qua những người trong cuộc này để tiếp cận thế giới họ?” Đức Chúa Trời đã đưa Don Waybright, một người ngoài cuộc, vào Nhà Tù Darrington với chiến lược đơn giản, theo Kinh Thánh, và có thể tái lập. Chúa đã chọn David Ludwick, một người trong cuộc, để hệ thực hiện chiến lược đó. Nói về David, Don nói: “Anh ấy là người tiên phong và là người có khải tượng. Anh dùng vai trò mình là mục vụ viên thực tế để khai sinh phong trào. Anh phá vỡ những rào cản và đem nhiều người khác cùng anh. Anh đoàn kết những người này quanh nhiệm vụ truyền giáo cốt lõi. Anh trao quyền hạn và trách nhiệm cho người khác. Ludwick là người phát triển giáo trình, sáng tạo hệ thống, phá vỡ rào cản, và tìm ra giải pháp vấn đề. Anh biết cách vận dụng thực tế chính trị trong hệ thống nhà tù cho lợi ích phong trào.” Người trong cuộc được trao quyền và trách nhiệm. Chẳng bao lâu, những người trong cuộc đó huấn luyện và cố vấn và liên hệ với ban quản lý nhà tù.
Phong Trào được yểm trợ bởi Chiến Lược rõ ràng và Phương Pháp đơn giản. Don Waybright mang Chiến Lược 4-Cánh-Đồng vào nhà tù: bước vào, gieo Phúc Âm, môn đồ hóa, lập hội thánh, và nhân bội lãnh đạo. Phương Pháp đơn giản được áp dụng để dạy từng bước, bảo đảm những môn đồ mới nhất cũng biết điều cần làm và cách làm.
Phong trào thực hành chức tế lễ của mỗi môn đồ. Những tù nhân này gia nhập cùng Chúa Trời trong công tác cứu chuộc của Ngài, trở thành những mục vụ viên của phúc âm. Họ là “dân được chọn, tế lễ nhà vua, quốc gia thánh, báu vật của Đức Chúa Trời” (I Phi-e-rơ 2:9), được gọi ra khỏi tối tăm để công bố lời ngợi khen Ngài.
Mục vụ truyền thống thỏa đáp nhu cầu của tù nhân. Nhưng phong trào đi xa hơn thế, trang bị và thách thức tù nhân trở thành môn đồ và lập hội thánh bởi chính họ. Sự tập trung được chuyển từ người nhận thụ động sang người dự chủ động.
Phong trào nhân bội thông qua mọi kênh có thể dùng. Phong trào tận dụng việc hợp tác chiến lược (như chương trình chủng viện và chuyển trại) để huấn luyện người đào tạo môn đồ và gia tăng mở rộng, nhưng phong trào không phụ thuộc vào sự công nhận chính thức. Phong trào nhân bội qua hai đường song song: Mục vụ viên thực tế được chuyển đến các nhà tù khác một cách có chiến lược để khởi đầu các nhóm mới, trong khi sứ điệp Phúc Âm cùng lúc lan truyền một cách tự nhiên từ phòng sinh hoạt chung này sang phòng sinh hoạt chung khác và từ các tù nhân đến gia đình họ.
Áp Dụng Khuôn Mẫu Đó
Suy Ngẫm
Những người này biết mình bị hư mất, và hy vọng duy nhất của họ là Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Trời hằng sống là trung tâm của phong trào này, định hình Căn Cước phong trào. Lời Ngài rao ra trong quyền năng Thánh Linh, và bông trái là những môn đồ và các hội thánh cho vinh hiển Ngài.
Hành Động
Hãy đọc những phân đoạn Kinh Thánh dưới đây và ghi chú thể nào tương tác giữa Lời Chúa, Thánh Linh, và sứ mạng truyền giáo cốt lõi hình thành Căn Cước của phong trào.
Lu-ca 3:21–23; 4:1–14
Lu-ca 24:36–49
Điều gì cần thay đổi trong sự hiểu biết và thực hành của bạn để khớp với phong trào của Đức Chúa Trời?
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………__________________________________________________________________________________________________________________
2. Chiến Thắng Qua Nước Mắt
Lào
“Họ đã thắng kẻ kiện cáo bởi huyết Chiên Con và bởi lời chứng của họ; họ không yêu sự sống họ quá đến nỗi rút lui khỏi sự chết.”
Khải Huyền 12:11
Sau cuộc cách mạng Cộng Sản tại Lào năm 1975, Noy, một sinh viên đầy triển vọng, được cử du học ở Mát-xcơ-va. Thời gian ở đó, anh học tiếng Nga, hoàn thành bằng cấp, và tiếp nhận Đấng Christ qua một mục vụ sân trường. Anh trở lại quê nhà và kết hôn với Chantha. Cùng nhau, họ bắt đầu lập hội thánh.
Việc làm của họ thu hút chú ý của chính quyền. Cộng Sản bắt Noy và buộc tội anh “gây chia rẽ xã hội.” Họ đề nghị thả anh lập tức, với một điều kiện: “Ngừng giảng đạo, anh có thể về nhà tức khắc; ngược lại, chúng tôi sẽ giam giữ anh vĩnh viễn.” Nhưng Noy đứng vững, từ chối đòi hỏi của họ.
Chantha bị cấm gặp Noy trong sáu tháng. Dù vậy, Noy xoay sở gửi cô lời nhắn duy nhất: “Bất kể gì xảy ra dù sống hay chết, hãy tiếp tục hướng dẫn các tín hữu thờ phượng và phục vụ Chúa.” Chẳng bao lâu, các tù nhân được phóng thích quốc tịch Lào, Tàu, và Việt bắt đầu tìm đến nhà Chantha, mang theo tin kinh ngạc Họ đặt đức tin nơi Đấng Christ qua lời chứng của Noy trong tù. Kinh ngạc, Chantha nhận ra mục vụ của Noy vẫn tiếp tục cả khi anh trong xiềng xích.
Sau hai năm rưỡi, cuối cùng Chantha được báo đến đón chồng. Noy sẽ được phóng thích qua quản chế, nhưng quan chức nhà tù đòi anh ký cam kết hứa không chia sẻ Phúc Âm. Noy từ chối điều kiện đó, tuy nhiên thật lạ, họ vẫn phóng thích anh.
Tự do khỏi tù, Noy đưa gia đình trẻ của anh đến một tỉnh chưa được tiếp cận. Trong gần một thập kỷ (1996–2005), anh làm việc không mệt mỏi, đi vào những làng chưa được tiếp cận, chia sẻ Phúc Âm, huấn luyện môn đồ mới, và mở các hội thánh. Anh trở lại để củng cố họ và phát triển người lãnh đạo, và số môn đồ tăng lên hơn ba ngàn, số tăng nhanh chóng ấy lần nữa gây chú ý của chính quyền. Tuy nhiên, hăm dọa tù đày không cản được Noy. Dù công an cảnh báo rằng anh trong danh sách bị theo dõi, anh vẫn kiên định nói với bạn hữu rắng, “Một ngày nào đó, xác tôi sẽ được thấy dọc đường. Đó là vì quá nhiều người đến biết Chúa Jêsus.”
Vào mùa Chúa Giáng Sinh tháng 12 năm 2005, Noy đang đi thăm các hội thánh, trong khi Chantha ở nhà chăm sóc năm đứa con của họ. Sau một buổi lễ, khi hội thánh đang cùng dùng bữa Giáng Sinh, hai ông đi xe máy đến. Họ ngồi hai bên cạnh Noy và buộc anh đi cùng họ vì có “việc cần giải quyết.” Dù các tín hữu rất lo lắng, Noy trấn an họ, đoan chắc anh sẽ không sao, và đồng ý đi. Khi hai ông đó nổ máy xe. Noy ngồi phía sau lưng một người, rồi cả ba biến mất.
Các tín hữu quan tâm lập tức bắt đầu cuộc tìm kiếm. Gần hội thánh đó, nơi con đường cắt xuyên khu rừng rậm, họ tìm thấy thi thể Noy. Anh đã bị giết dã man.
Ngày Chia Rẽ Chấm Dứt
Đau đớn tột cùng, Chantha quyết định tổ chức tang lễ công khai cho Noy tại Viêng Chăn, thủ đô nước Lào. Bà muốn chính quyền thấy rằng người theo Đấng Christ không hề sợ hãi. Hàng trăm người tụ hợp để trân trọng sự hy sinh của Noy và nâng đỡ gia đình anh.
Peter, người phục vụ lâu năm giữa dân Lào, cũng tham dự tang lễ và nhớ lại sự chia rẽ sâu sắc ngay trong cộng đồng Cơ-Đốc-nhân Lào bấy giờ: “Hội Thánh Đăng Ký Nhà Nước và các hội thánh tư gia chưa đăng ký là hai dòng tách biệt. Cả hai đều là những người trung tín theo Chúa, nhưng họ không tin cậy nhau. Noy là một trong số rất ít người được cả hai bên tin cậy.” Tang lễ Noy đánh dấu lần đầu các nhà lãnh đạo hai nhóm cùng đến với nhau trong nhiều năm. “Khi họ cầu nguyện và đau buồn cho Noy, họ quyết rằng sự chia rẽ giữa họ buộc phải chấm dứt,” Peter nói.
Điều này đánh dấu bước ngoặt rõ ràng trong lịch sử hội thánh Lào, khi các lãnh đạo của hội thánh đăng ký và không đăng ký bắt đầu tin cậy nhau. “Điều đó thay đổi mọi điều,” Peter kết luận. Một khải tượng cùng được chia sẻ về sự hiệp một và nhân bội bắt đầu bén rễ, chuẩn bị con đường cho phong trào sắp theo sau.
Từ Góa Phụ thành Người Lãnh Đạo Phong Trào
Đồng thời, mọi thứ thay đổi cho Chantha. Trước khi Noy chết, cô là giáo viên trường học luôn nâng đỡ mục vụ của chồng cô. “Tôi tuyệt vọng khi chồng tôi chết,” Chantha thừa nhận. “Tôi nói, ‘Chúa ôi, xin đem con đi luôn. Con không thể tiếp tục sống.’”
Không biết gì phải làm, cô kiêng ăn cầu nguyện suốt mười lăm ngày. Cô kêu cầu Chúa, và Ngài đáp lời. “Tôi đọc Giăng 15 nói cứ ở trong Đấng Christ và kết quả nhiều. Rồi Chúa bảo tôi, ‘Bất kể gì con làm, dù con ngủ, đi, hoặc ăn, con được chỉ định đi phục hưng hội thánh.” Chúa bảo cô củng cố các hội thánh mà chồng bà đã mở đầu. “Sự kêu gọi của Noy trở thành sự kêu gọi của tôi,” cô nói. “Chúa cho Noy khải tượng nhân bội môn đồ, hội thánh, và người lãnh đạo khắp tỉnh này. Giờ đây khải tượng đó trở thành hiện thực khi tôi tin cậy và phục vụ Chúa dù trở ngại.” Khi các tín hữu thấy sự mạnh mẽ của cô, họ được cảm hứng và nôn nả phục vụ Chúa bên cô.
Chantha bỏ việc làm giáo viên nhà nước để tiếp tục mục vụ của Noy. “Chúng tôi đã tăng từ ba ngàn môn đồ lên hơn mười ngàn trong năm-mươi-sáu hội thánh,” cô ghi sổ. “Chúa đã làm điều đó. Chúa đã định điều đó.” Hiện nay, các nhóm thợ gặt Lào đang băng qua những nước láng giềng. Chantha nói: “Một số đã bị bắt và bị đánh đập, nhưng họ vẫn giữ đức tin. Họ vẫn tiếp bước.” Khải tượng mà Chúa đã chia sẻ với chồng cô vẫn tiếp tục qua cô, các con nay đã lớn của họ, và tất cả những môn đồ đó.
Cà Phê Tại Bangkok
Trong một quán cà phê ở Bangkok, Thái Lan, tôi ngồi với hai tác nhân mở hội thánh người Lào: Peter, người phục vụ lâu năm từng dự tang lễ của Noy, và John, một người Mỹ gốc Lào. Tôi muốn hiểu thể nào phong trào này đã xuất hiện và thể nào nó lan rộng.
Peter: Người Ngoài Cuộc thành Người Trong Cuộc
Sự tham gia của Peter bắt đầu từ những năm 1990. Đến như người ngoài cuộc không có bất kỳ mối liên hệ địa phương nào, anh lùng tìm một “gia đình bình an”—một gia đình được Chúa sắm sẵn mở lòng với Phúc Âm và có mối liên hệ cộng đồng. Trong khi thực hiện dự án phát triển cộng đồng, Peter gặp Daw, người lãnh đạo có uy tín trong dòng tộc anh ấy. Peter nhận ra Daw là người bình an mà anh đang tìm và kiên nhẫn đợi đúng thời điểm chia sẻ Phúc Âm.
Một buổi tối, Peter đến căn nhà nhỏ của Daw và thấy anh dấn mình nhảy múa kiếm người Khmu, là một phần lễ ma quỷ. Đám đông khoảng hai mươi người tụ tập trong nhà. Peter ghé đầu vào, nhận ra lễ đó, và nói với Daw rằng anh đợi bên ngoài.
Khi Daw lễ xong, anh mời Peter vào nhà. Cơ hội lập tức lộ ra khi một trong các trưởng lão trong làng lên tiếng, hỏi, “Chính quyền bảo chúng tôi Chúa Jêsus là kẻ thù nhà nước. Tại sao họ quá sợ Ngài? Chúa Jêsus này là ai?”
Hơn một giờ tiếp theo, Peter chia sẻ Phúc Âm, trả lời nhiều câu hỏi từ nhiều người có mặt. Dù Daw âm thầm quan tâm, anh giữ im lặng rõ ràng suốt cuộc thảo luận.
Sau tối đó, Daw và Peter gặp nhau nữa. Peter thách thức Daw đáp lại lời mời của Chúa, và Daw cuối cùng đầu phục Đấng Christ. Hai người tiếp tục bí mật gặp nhau từ ba đến năm lần mỗi tuần để đọc Kinh Thánh, và Daw học cách theo Chúa Jêsus và đào tạo môn đồ. Anh bỏ rượu. Anh ngừng đánh vợ. Biến đổi lạ lùng ấy không chỉ gây chú ý cho vợ mà còn cả làng.
Peter huấn luyện Daw chia sẻ đức tin, rồi Daw dẫn cả gia đình anh đến Đấng Christ. Khi Daw chia sẻ mọi điều mình học được cho người khác, hội thánh gồm bốn mươi môn đồ đã báp-tem được hình thành, với Daw là người lãnh đạo.
Sự nổi lên nhanh chóng của hội thánh mới đó khiến chính quyền lo ngại. Chủ tịch địa phương đáp lại bằng cách đưa lính vũ trang bao vây làng, đòi các tín hữu bỏ đức tin. Họ bắt bảy người lãnh đạo hội thánh bị tù lên đến sáu tháng. Sự bắt bớ đó buộc toàn bộ hoạt động hội thánh—từ truyền giảng đến huấn luyện và nhóm họp—hoạt động ngầm. Nếu lộ, Cơ-Đốc-nhân đối diện hậu quả xấu hơn cả người buôn bán ma túy bị án. Peter nhớ lại, “Chúng tôi làm hết sức sau khi trời tối.”
Peter huấn luyện tín hữu địa phương xuyên bốn tỉnh khác nhau về cách tìm gia đình bình an, môn đồ hóa, và mở hội thánh. Vào năm 2006, các môn đồ đã báp-têm hàng ngàn tân tín hữu xuyên bốn dòng hội thánh nhân bội. Dẫu tăng trưởng này, chưa đến 1 phần trăm dân số Lào là Cơ-Đốc-nhân, và hơn một trăm nhóm dân hãy còn chưa nghe được phúc âm.
Cái giá trung tín tăng lên. Hàng trăm tín hữu bị tù, và sáu môn đồ bị giết, có Daw, vợ anh, và con trai sáu tuổi của họ. Xác họ không bao giờ được tìm thấy. Dù những biến cố tàn phá quá đỗi thử nghiệm phong trào đang bùng phát, chúng không ngăn nổi sự tăng trưởng. Các môn đồ can đảm mang khải tượng đó tiến tới trước.
John: Tìm Được Timeo
Năm 2017, John dời từ Mỹ đến Lào và bắt đầu kinh doanh lọc nước giúp các cộng đồng vùng quê. Nhưng mục đích chính của anh là môn đồ hóa thể hệ mới thuộc tín hữu Lào. Được hướng dẫn bởi Peter, John tự tận hiến khải đạo lớp trẻ. Timeo là một trong số đó. “Anh là người trung tín, khiêm nhường không bị thúc đẩy bởi tiền,” John nói. “Những khác đến rồi đi, nhưng Timeo ở lại.”
Năm 2012, John chuyển từ quản trị kinh doanh đến môn đồ hóa toàn thời gian. Anh mời Timeo gia nhập anh làm người tiên phong, đề nghị một lựa chọn: “Việc mới này sẽ không dễ. Bạn sẽ bị bách hại, thậm chí bị bắt. Bạn sẽ có ít tiền hơn, ít được công nhận hơn—nhưng bạn sẽ môn đồ hóa dân của bạn.”
Timeo tiếp nhận thách thức đó, và họ hình thành một nhóm sứ đồ với một ít người nội bộ và gia đình. John di chuyển băng ngang biên giới đến Thái, nơi anh có thể điều động những đội ngắn hạn và dìu dắt Timeo từ xa. Qua bốn năm kế, họ dẫn hơn bốn mươi đội vào các làng Lào bằng xe máy, lái hàng ngàn dặm và đi-bộ-cầu-nguyện trong hơn hai trăm làng. Dọc đường, họ tìm thấy người bình an, chứng kiến những chữa lành mầu nhiệm, và thấy nhiều gia đình cả nhà đến với đức tin.
Năm 2015, hàng trăm người được báp-têm và hàng chục hội thánh được thành lập. Và qua đức tin những tân môn đồ này, phúc âm bắt đầu lan đến những nhóm dân chưa được tiếp cận. Năm theo sau, John trở lại Lào để ở gần Timeo và phong trào đang tăng trưởng.
Năm 2016, John, Timeo, Peter, và những người khác gặp các lãnh đạo hệ phái tin lành chính của nước đó. Lãnh đạo hệ phái đó, bực mình vì kết quả giới hạn từ khuôn mẫu chủng viện truyền thống của họ, đã đồng ý tiếp nhận ý tưởng mới. Ba người đó chia sẻ điều Chúa đã đang làm qua việc môn đồ hóa đơn giản theo Kinh Thánh và việc nhân bội hội thánh và giải thích tại sao việc gìn giữ phong trào bản địa là then chốt.
Trong sự đột phá quan trọng, ông hội trưởng hệ phái, là giáo phụ được tôn kính bảy-mươi-tuổi, công khai tận hiến những năm còn lại đời ông cho việc nhân bội hội thánh trong vòng mỗi nhóm dân ở Lào. “Từ giây phút đó, ông xem tôi như con trai ông,” John kể lại. “Ông làm việc sát cánh chúng tôi năm năm kế đến khi chết năm 2022.” Với những ai trong số lãnh đạo và mục sư hệ phái đã thành lập mà chống đối thay đổi này, vị hội trưởng hệ phái đó nói rõ: “Chúng ta phải làm ngay điều này.”
Thay đổi này mở cửa cho John và Timeo huấn luyện khắp hệ phái đó với sự ủng hộ và đồng hành hoàn toàn của vị hội trưởng đó. Từ 2017 đến 2018, họ dọc ngang khắp nước, bí mật huấn luyện hàng ngàn người. Những nhà tiên phong sứ đồ xuất hiện, được trách nhiệm lập các nhóm sứ đồ nhắm vào các nhóm dân chưa được tiếp cận.
Năm 2019, các tân môn đồ đã lập các hội thánh thế-hệ-thứ-hai và -ba. Năm sau, họ bắt đầu các hội thánh thế-hệ-thứ-tư. Điều các môn đồ Lào thiếu trong huấn luyện chính thức, họ bù lại bằng nhiệt huyết. Lòng tận hiến bùng cháy và phương pháp đơn giản, dễ tái lập của họ khiến phúc âm vượt rào cản văn hóa và ngôn ngữ.
Từ 2017, phong trào đã báp-têm hơn năm mươi ngàn tân môn đồ và lập 1.200 hội thánh. Sự tăng trưởng nhanh chóng này theo sau nhiều thập kỷ gieo trồng. Năm 1990, Cơ-Đốc-nhân chiếm 0,2 phần trăm dân số tại Lào. Đến năm 2024, phần trăm đó đã tăng gấp mười lăm lần đến gần 3 phần trăm. Các dòng hội thánh thế-hệ-thứ-tư hiện rất tích cực tại mười trong số mười tám tỉnh của Lào, tiếp cận hơn một trăm nhóm dân chưa nghe phúc âm, phần lớn là những theo bái vật giáo.
Jai: Dễ Dạy Và Không Thể Cản
Jai là một trong những người tiên phong sứ đồ mở hội thánh được hệ phái sai phái năm 2017 để khởi động phong trào môn đồ hóa và lập hội thánh. John và Timeo huấn luyện anh theo chiến lược 4-Cánh-Đồng, giúp Jai trang bị tân tín hữu truyền giáo và trao quyền họ làm báp-tem và môn đồ hóa. Anh học cách giúp môn đồ nhận biết đặc điểm của hội thánh lành mạnh (Công Vụ 2:36–47) và cách theo dõi và đánh giá các thế hệ hội thánh mới.
Chỉ trong năm đầu, Jai thu được 474 môn đồ và lập các hội thánh mới tại ba mươi tám làng. Thành công này nhanh chóng thu hút chú ý của công an và họ bắt anh. Jai bị nhốt một năm và hai mươi bốn ngày. (Jai chính xác cả hai mươi bốn ngày đó!) Mỗi tuần, vợ anh, là Sawan, đều đi xe buýt đường dài thăm anh trong tù và mang thức ăn.
Ngay cả sau song sắt, Jai vẫn không thể bị cản. Anh dẫn mười một tù nhân đến với Đấng Christ và thành lập hội thánh.
Trước khi được phóng thích, các quan chức đưa lời dọa: “Lần tới, anh sẽ không vào tù. Anh sẽ vào danh sách”—một cảnh báo rõ rằng nếu Jai tiếp tục lan phúc âm, họ sẽ giết anh.
Để nuôi gia đình, hiện nay Jai trồng lúa và nuôi gà, vịt, và hai con bò. Khi không làm việc đồng áng, anh đem phúc âm vào những cánh đồng thuộc linh chưa được tiếp cận. Anh đuổi quỷ, chữa lành, môn đồ hóa, mở hội thánh, đào tạo lãnh đạo. Hàng ngàn người đã tin nhận Đấng Christ, và họ mở hàng trăm hội thánh.
John mô tả Jai là “dễ dạy và không thể bị cản.” Anh tiếp,“Anh ấy không mê tiền bạc. Anh ấy sống rất đơn giản. Anh ấy sẵn sàng vượt núi, ngủ trên nền cứng, ăn những gì được mời, để anh có cơ hội chia sẻ Phúc Âm và lập nhóm môn đồ mới.”
Trong một bữa ăn tại Bangkok, Jai bảo tôi rằng anh muốn tiếp cận nhóm dân của anh gồm 160.000 người, 1.500 người trong số đó theo Đấng Christ. Dù đe dọa giết của chính quyền, anh giữ quyết tâm. Anh sẽ không dừng.
Theo Dữ Kiện
Kể từ 2017, phong trào này đã theo dõi sự phát triển. Họ biết Phúc Âm được chia sẻ bao nhiêu lần, họ đếm số môn đồ mới được báp-tem, số nhóm môn đồ mới, số hội thánh mới, và họ cũng theo dõi số người phục vụ mà họ huấn luyện.
Laos: 2017-2024
Giữa năm 2017 và 2024, họ huấn luyện và huy động gần hai mươi ngàn tín hữu để chia sẻ Phúc Âm và môn đồ hóa qua hơn một ngàn khóa. Trong bảy năm qua, các môn đồ này đã chia sẻ Phúc Âm gần 650.000 lần, tiếp cận một trong mười người dân, kết quả là gần bốn chục ngàn tân môn đồ được báp-tem. Họ đã khởi sự hơn bốn ngàn nhóm học khám phá Kinh Thánh và nhóm môn đồ hóa và lập 1.319 hội thánh mới.
Có sợi chỉ liên tục chạy xuyên chiến lược này, nối mỗi phần kế hoạch họ:
Gieo khải tượng tiếp cận mọi nhóm dân và mọi nơi.
Huấn luyện môn đồ chia sẻ Phúc Âm và môn đồ hóa.
Lập các nhóm mới tập trung vào Lời Chúa, học cách theo Đấng Christ.
Bảo đảm các nhóm môn đồ phát triển thành những hội thánh lành mạnh sanh thêm người phục vụ, môn đồ, và các hội thánh.
Huấn luyện và dìu dắt người lãnh đạo nào đang tạo môn đồ và mở hội thánh.
Những môn đồ Lào này tập trung vào những kết quả họ có thể kiểm soát thay vì điều họ không thể kiểm soát.
Họ không thể quyết định bao nhiêu người đến đức tin, nhưng họ có thể quyết định bao nhiêu môn đồ họ huấn luyện và với ai họ sẽ chia sẻ Phúc Âm.
Họ không thể kiểm soát ai đáp ứng lời gọi Phúc Âm, nhưng họ có thể kiểm soát liệu xem công cụ truyền giảng của họ đơn giản, đúng Kinh Thánh, và có thể tái lập, để các môn đồ mới có thể lập tức chia sẻ nó cho người thân.
Họ không thể kiểm soát liệu xem một tân tín hữu tiếp tục tăng trưởng trong Đấng Christ, nhưng họ có thể lập tân tín hữu thành các nhóm hứa vâng phục dùng phương pháp đơn giản đọc Kinh Thánh và cùng bước theo Chúa.
Họ không thể kiểm soát bao nhiêu hội thánh họ khởi đầu, nhưng họ có thể thực hiện khuôn mẫu đơn giản cho đời sống hội thánh dựa trên Công Vụ 2:36–47, mà sẽ trang bị các nhóm môn đồ hóa để thành những hội thánh lành mạnh.
Họ là đầy tớ trung tín của sự sống mà duy chỉ Đức Chúa Trời có thể ban qua Đấng Christ, và việc đầy tớ đó được đánh dấu bằng tinh thần kỷ luật và lượng giá. Để bảo đảm phong trào không chỉ tăng bề rộng nhưng còn bề sâu và dễ tái tạo, họ khai thác công cụ chuẩn đoán gọi là 7 Giai Đoạn của Phong Trào Lập Hội Thánh.
7 Giai Đoạn của Phong Trào Thành Lập Hội Thánh
Tôi thấy những bản đồ họ vẽ cho từng vùng, nơi các nhóm địa phương tiến vào và tô màu mã hóa vùng để xác thực mức tiến triển, nhận diện khoảng hở, và lập kế hoạch nhân bội.
Đến năm 2023, với các thế hệ hội thánh khắp mười tỉnh, phong trào này bước vào giai đoạn mới. Timeo và các nhóm địa phương tiếp tục dìu dắt hàng chục nhóm sứ đồ, tập trung tiếp cận mọi tỉnh. Năm 2024, John và gia đình chuyển chỗ ở và đảm nhận vai trò giáo hạt khắp Châu Á.
Phần Thưởng Đời Đời
Tôi ngồi cùng những người mang sẹo và chuyện của phong trào này. Tôi lắng nghe Peter kể lại Daw—người bình an đầu tiên—thể nào Phúc Âm biến hóa đời Daw, thể nào anh dẫn người khác vào đức tin, và thể nào anh và gia đình anh tử đạo vì từ chối im lặng. Họ sẽ nhận phần thưởng đời đời cho những thống khổ họ đã chịu.
Tôi khóc cùng Chantha khi cô diễn tả Noy—thể nào anh bị đưa đi khỏi cô, và thể nào cái chết của anh đã phá đổ tường ngăn cách giữa các hội thánh đăng ký và bí mật. Chantha là hiện thân tấm lòng của phong trào này của Đức Chúa Trời giữa vòng dân Lào, một phong trào có tầm nhìn đặt vào các quốc gia. Cô chia sẻ tấm lòng đó với hàng ngàn môn đồ bình thường.
Những người tử đạo là khởi đầu của phong trào nhân bội tiếp tục kết trái mọi tỉnh thành và vượt ngoài biên giới.
Chúa Jêsus dạy rằng trừ khi hạt lúa gieo xuống và chết đi, nó cứ ở một mình. Nhưng nếu chết đi, nó sẽ sanh lắm trái” (Giăng 12:24). Các môn đồ Lào học bài học này. Tất cả họ đã được chạm lòng bởi cái chết của những người tử đạo đó. Họ hiểu rõ những rủi ro họ nhận và cái giá họ trả. Trái đó không thể từ chối. Các môn đồ Lào hiện nay vượt biên giới để trở thành những giáo sỹ nhân bội, và hội thánh toàn quốc đó công bố một khải tượng táo bạo: thấy 10% dân số đất nước họ được tiếp cận Phúc Âm năm 2030.
Suy Ngẫm Và Hành Động
Dù câu chuyện này đâm rễ trong đồng lúa và rừng rậm nước Lào, nó mang bài học phổ quát. Đây không chỉ là chuyện tử đạo và chịu đựng, đây là minh chứng hùng hồn về việc Đức Chúa Trời biến một sinh viên, một nông dân, và một góa phụ trở thành những tác nhân cho phong trào toàn quốc. Để áp dụng những bài học này, phần này thách thức bạn suy ngẫm về những động lực của phong trào được trình bày trong câu chuyện và sống thực hành chúng.
Khi suy ngẫm, hãy nhớ ba cốt lõi của một phong trào nhân bội:
Căn Cước của phong trào phải phản chiếu đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus: vâng phục Lời Cha, nương cậy Thánh Linh. và trung tín với sứ mạng.
Chiến Lược của phong trào phải cung cấp đường lối rõ ràng để bày tỏ Căn Cước đó qua hành động: bước vào, gieo Phúc Âm, môn đồ hóa, lập hội thánh, và nhân bội lãnh đạo.
Phương Pháp của phong trào phải phục vụ cho Chiến Lược của nó và bắt buộc phải: đơn giản, hiệu quả, và lây lan.
Động Lực Của Phong Trào
Phong Trào Dự Đoán Thống Khổ. Người lãnh đạo bị tù, và nếu họ tiếp tục nói về Chúa Jêsus, một số họ có thể bị giết. Người vợ có lẽ thành góa phụ, con cái có lẽ mất cha. Thế nhưng, Phúc Âm tiếp tục tiến tới. Điều đó là trường hợp tại tang lễ Noy, nơi dân sự Chúa hiệp lại trong tình yêu thương và quyết tâm đem Phúc Âm cho dân tộc mình. Qua sự chịu khổ trung tín, họ chiến thắng sự tấn công của Kẻ Thù.
Phong Trào tìm những người được Chúa sắm sẵn. Peter bước vào cánh đồng chưa được tiếp cận, tìm kiếm người được Đức Chúa Trời sắm sẵn. Anh tìm được Daw. Ngay cả trước khi Daw thành môn đồ, anh ấy mời người khác đến nghe. Daw đón tiếp sứ giả, sứ điệp, và ôm choàng sứ mạng. Anh là người bình an.
Phong Trào huấn luyện người trong Cuộc. Khi Daw, người trong cuộc, tin nhận Đấng Christ, chiến lược của Peter là dạy anh cách tiếp cận chính dân của anh. Chìa khóa của phong trào là người trong cuộc như Daw, Noy, Chantha, Jai, và Timeo, là những người phục vụ như người môn đồ hóa và người mở hội thánh. Cách bạn đào tạo một môn đồ kế tiếp không bảo đảm có một phong trào, nhưng nó quyết định liệu một phong trào có thể xảy ra không.
Phong Trào coi trọng đức tính. Khi phong trào lớn lên, người lãnh đạo được ơn xuất hiện rồi họ có lẽ bị cám dỗ bởi ngân quỹ từ ngoài. Vì phong trào coi trọng đức tính, họ không khuyến khích lãnh đạo mê tiền. Tiêu chuẩn này là bằng chứng rõ trong đời sống những người tiên phong chủ chốt. Jai chọn sống đơn sơ—ngủ trên nền nhà nhám và ăn thứ anh được tiếp đãi—và Timeo chọn gian khổ và bắt bớ hơn tiền bạc và chức danh.
Phong Trào đối đầu sự cạnh tranh. Peter và John chia sẻ với tôi hai thách thức lớn mà phong trào mới hiện phải đối diện. Những trở ngại này—sự tranh giành lãnh đạo và ảnh hưởng tổ chức truyền thống—thật phổ biến đối với phong trào.
Tranh giành lãnh đạo. Những nhóm Cơ-Đốc-nhân khác thu hút các lãnh đạo tiên phong của phong trào bằng cách đề nghị lương bổng, nâng cao giáo dục, và địa vị ổn định. Họ giới thiệu những triết lý mục vụ làm suy yếu phong trào bản địa. Một số lãnh đạo hàng đầu đã bị dụ bỏ đi. Một số dòng phong trào bị khựng lại.
Ảnh Hưởng Của Hệ Phái Truyền Thống. Các chương trình chủng viện tập trung có nguy cơ làm gián đoạn phong trào bản địa bằng cách áp đặt những phương thức cứng nhắc hơn trong việc nhân bội môn đồ và hội thánh.
Họ vượt qua những thách thức này bằng cách duy trì sự thật với Căn Cước, Chiến Lược, và Phương Pháp của họ. Trong khi đó, Đức Chúa Trời đem thay đổi sâu sắc qua sự tử đạo của Noy và thẩm quyền thuộc linh của vị hội trưởng hệ phái.
Phong Trào đeo đuổi cả chiều sâu VÀ chiều rộng. Phong trào nhân bội nhanh nhiều lúc, nhưng những đột phá đó đều được chuẩn bị bởi một giai đoạn dài đầy khó khăn trong đó sự bắt bớ phục vụ như sự chuẩn bị, đào sâu và rèn luyện Căn Cước họ. Phong trào cũng trở nên hiệu quả khi họ kiên trì áp dụng Chiến Lược phong trào nhân bội. Họ dùng phương pháp đơn giản để lan truyền Phúc Âm, môn đồ hóa, và lập hội thánh.
Phong Trào biến khải tượng thành hành động. Khích lệ để tiếp cận cả nước và đặt mục tiêu khát vọng là một chuyện, nhưng biến khải tượng đó thành kết quả cụ thể là chuyện khác. Họ biết họ là ai và điều phải làm. Họ có chiến lược hiệu quả và phương pháp đã được chứng minh.
Áp Dụng Khuôn Mẫu
Suy Ngẫm
Những môn đồ Lào này bị bách hại mà phần lớn thế giới không biết. Chúng ta có lẽ bị cám dỗ xem họ như nạn nhân. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn họ trong sự yếu đuối của họ để bày tỏ vinh hiển Ngài. Khi chúng ta cảm thấy yếu đuối và choáng ngợp với thách thức tiếp cận thế giới mình, hãy nhớ những thánh đồ này, những người được chọn này, những thầy tế lễ nhà vua này, được chọn để chịu khổ vì danh Chúa Jêsus, được chọn để nhân bội môn đồ và các hội thánh. Mọi nơi.
Hành Động
Đọc Lu-ca 10:1–11.
Khi Chúa Jêsus sai các môn đồ đi, Ngài bảo họ làm gì?
Ngài bảo họ đừng làm gì?
Những hành động cụ thể nào bạn làm để làm theo khuôn mẫu đó ngày nay?
Thể nào bạn sẽ tìm và làm việc với người bình an mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn?
_______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
3. Rời Khỏi Lớp, Vào Thực Tiễn
Indonesia
“Hãy theo Ta,” Chúa Jêsus phán, “và Ta sẽ sai ngươi đi đánh lưới người.”
Ma-thi-ơ 4:19
Zak lớn lên trong gia đình Cơ-Đốc-nhân tại Indonesia, nhưng trôi lạc khỏi đức tin cha mẹ mình. Anh bắt đầu chơi và bán ma túy, mà cuối cùng dẫn đến tù tội. Chính sau những song sắt tù mà anh gặp gỡ Phúc Âm. Những cuộc thăm viếng hàng tuần từ các Cơ-Đốc-nhân lập lại thông điệp mà anh đã nghe trong nhiều năm, nhưng lần đầu tiên, anh hiểu nó. Choáng ngợp bởi ơn sủng Chúa, Zak ăn năn và đầu phục đời mình cho Đấng Christ. Lúc còn trong tù, Zak cảm nhận lời kêu gọi tăng dần để tiếp cận người Hồi Giáo.
Sau khi được phóng thích, anh ghi danh vào chủng viện và đi ra mỗi ngày để tiếp cận người Hồi Giáo và chia sẻ Phúc Âm.
Chính tại chủng viện mà Zak gặp Mike, một giáo sỹ Mỹ mà những năm đầu phục vụ tại Indonesia đã làm công việc mà các nhà truyền giáo truyền thống làm—giảng dạy trong chủng viện và gây dựng các hội thánh có sẵn. Tuy nhiên, Mike ngày càng băn khoăn trước khoảng hở giữa những điều ông trải qua và tiếng gọi của Đại Sứ Mạng. Chúa đã đảo lộn anh. Mike quyết định thực hiện thay đổi triệt để, chuyển “từ lớp ra thực tiễn. Từ huấn luyện trên bục giảng sang huấn luyện trên chiếu rơm.”
Năm 2004, Mike nhận trách nhiệm đáng sợ về một nhóm dân chưa được tiếp cận gồm vài triệu tín đồ Hồi Giáo. Thách thức này thúc đẩy anh đến cầu nguyện và đến Kinh Thánh như sự hướng dẫn cho việc môn đồ hóa. “Ban đầu rất khó khăn,” Mike nhớ lại. “Chúa đã hạ lòng chúng tôi và tỏ cho chúng tôi thấy sự đơn giản của Đại Sứ Mạng.”
Sau tốt nghiệp và huấn luyện với Mike trong bốn tháng, Zak sẵn sàng chuyển đến thành phố khác. Tại đó, Zak dành tám tiếng mỗi ngày chia sẻ phúc âm cho người Hồi Giáo. Anh mang phúc âm đến đền thờ Hồi, chợ búa, trường học, và hàng xóm. Ban đầu, không kết quả. Nhưng Zak kiên trì, tin rằng phúc âm đó đã cứu anh thì cũng có thể cứu người Hồi.
Hợp Tác Người Ngoài Cuộc–Người Trong Cuộc
Bước bứt phá đầu tiên đến khi Zak dẫn Tamir đến Đấng Christ.
Tamir là nông dân chật vật nuôi sống gia đình trẻ của anh. Giờ đây anh quá tuyệt vọng, anh thừa nhận, “Tôi ắt thờ cả Sa-tan nếu điều đó ích lợi.” Khi lần đầu anh nghe về Chúa Jêsus qua Zak, ý nghĩ đầu của anh là, Có lẽ nếu mình đến gần Chúa Jêsus, lời cầu nguyện mình sẽ được nhậm.
Mỗi thứ Tư, Tamir đi bộ nhiều tiếng để gặp Zak và học Kinh Thánh. Anh bắt đầu với hy vọng giải quyết nan đề tài chính của mình. Nhưng anh nán ở lại vì phúc âm hành động biến đổi. Khi Tamir đọc chuyện A-đam và Ê-va, anh nhận ra chính tội lỗi anh đã phân rẽ anh khỏi Đức Chúa Trời. Zak giải thích rằng Đức Chúa Trời đã bắt chiếc cầu nối khoảng cách đó qua Chúa Jêsus và rằng Ngài ban cho Tamir sự tha thứ cùng mối thông công được phục hồi—một lẽ thật mà Hồi Giáo chưa từng dạy anh. Anh quay về Đấng Christ, và Zak báp-têm anh. Sự biến đổi của Tamir rõ ràng. Gia đình anh thấy điều đó, và anh bắt đầu đem họ đến Đấng Christ: vợ anh, con cái, cha mẹ, cha mẹ vợ, anh em và chị em anh. Chẳng bao lâu, anh dẫn bạn hữu và láng giềng đến Đấng Christ nữa.
Sự nổi lên đột ngột này của các tân tín hữu đã thu hút chú ý của các giáo sĩ Hồi Giáo địa phương, họ khiếu nại với công an. Tamir bị bắt và thẩm vấn. Các sĩ quan đe dọa đốt nhà anh và cảnh báo rằng anh có thể đối diện mười lăm năm tù. Con cái anh bị bắt nạt ở trường. Nhưng Tamir đứng vững và không ngừng chia sẻ phúc âm. Sự làm chứng trung tín của anh cuối cùng đã dẫn hai sĩ quan đặt đức tin nơi Đấng Christ.
Zak dạy Tamir cách đọc Kinh Thánh và môn đồ hóa. Theo mô hình 3-Phần-3 , họ đọc một phân đoạn Kinh Thánh, rồi hỏi:
Điều gì câu chuyện hoặc phân đoạn Kinh Thánh này nói?
Điều gì bạn học về Chúa?
Điều gì thú vị nhất?
Tại sao điều này còn giá trị?
Điều gì chúng ta làm để vâng lời?
Với ai bạn sẽ chia sẻ điều này?
Qua sự huấn luyện và dìu dắt của Zak, Tamir, một nông dân phá sản, trở thành Tamir, một tác nhân phong trào. Zak chỉ cho Tamir cách môn đồ hóa bằng phương pháp gọi là MAWL:
Model (Mẫu): Chỉ họ cách làm.
Assist (Giúp): Giúp họ làm.
Watch (Nhìn): Đưa nhận xét.
Launch (Phóng): Họ nắm vững.
Hai thập kỷ sau, Tamir vẫn chia sẻ đức tin với năm đến mười người mỗi ngày. Anh đã theo mô hình mà Zak cung cấp, huấn luyện vô số môn đồ và nhà lãnh đạo—quá nhiều đến mức anh hết đếm nổi.
Lập Hội Thánh
Năm 2005, trọng tâm của Zak nhắm vào truyền giáo và môn đồ hóa người môn đồ hóa. Anh thấy thành công, nhưng điều trọng yếu vẫn thiếu: Tân môn đồ không đều đặn lập và tái lập các hội thánh có tinh thần môn đồ hóa lành mạnh.
Zak và Mike giải quyết điều này bằng cách sáng tạo các tài liệu huấn luyện môn đồ và người lãnh đạo mới nổi mà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vâng phục Đại Sứ Mạng phải là tiến trình liên tục, nhấn mạnh sự kết nối Đấng Christ và vâng phục Sứ Mạng. Họ dạy rằng Đại Sứ Mạng không kết thúc ở việc truyền giáo; nó là tiến trình liên tục môn đồ hóa xuyên toàn thế giới.
Mike định nghĩa trọng tâm Đại Sứ Mạng: “Môn đồ hóa mọi ethne (mọi nhóm sắc dân),” được yểm trợ bởi hai bảo đảm: thẩm quyền và ở cùng của Chúa Jêsus. Nhiệm vụ cốt lõi là “Đi, báp-têm, và dạy họ vâng phục.”
Zak giải thích phương pháp của họ: “Chúng ta dẫn người đến đức tin, báp-tem họ, và dạy họ bắt đầu mở một nhóm môn đồ mà sẽ trở thành một hội thánh. Khi những môn đồ và hội thánh đó tái lập những thế hệ, một phong trào được sanh ra.”
Các tài liệu, mà Zak và Mike xây dựng nhằm yểm trợ khải tượng này, hướng dẫn các tín hữu xuyên suốt kế hoạch môn đồ hóa mà sẽ tăng sức họ vâng phục mọi điều Kinh Thánh đòi hỏi môn đồ. Phần then chốt huấn luyện của họ đưa ra lộ trình rõ ràng để lập hội thánh sống động. Qua nhiều năm, họ điều chỉnh và hoàn thiện đường lối này để nó đơn giản, dễ hiểu, dễ lập lại tối đa. Kết quả là, các hội thánh đều đặn nhân bội đến thế hệ thứ tư và xa nữa. Nhiều dòng tái lập môn đồ và hội thánh nổi lên khắp Indonesia, đặc biệt giữa các nhóm dân khó-tiếp-cận, chưa tiếp cận.
Zak chia sẻ gương về Yusuf, một thanh niên khoảng giữa-tuổi-hai-mươi, được đồng nghiệp thách thức: “Nếu anh vâng phục tất cả mệnh lệnh Kinh Thánh, tôi sẽ dìu dắt anh.” Anh đồng ý và được báp-tem. Chỉ bốn tháng sau, Yusuf dẫn ba người đến với đức tin nơi Đấng Christ. Một trong số họ, Zakir, bắt đầu một hội thánh tại nhà mình và báp-tem hai người khác. Theo mô hình đó, mỗi môn đồ mới bắt đầu một hội thánh tại nhà mình trong khi Yusuf môn đồ hóa họ. Ba năm sau, việc môn đồ hóa ban đầu của Yusuf kết trái một nghìn tín hữu đã báp-tem và bốn mươi hội thánh mới.
Học qua Thực Tiễn
Giữa năm 2005 và 2009, Zak và Mike tập trung phát triển nhiều dòng tái lập môn đồ và hội thánh có khả năng sinh sản. Khải tượng này tạo căng thẳng và năng lực cần thiết để bơm dầu vào việc học hỏi của họ. Khi huấn luyện các lãnh đạo mới nổi lên, họ đều đặn thử nghiệm các giải pháp và xét lại kết quả.
Phương pháp họ đặt nền trên ba nguồn hướng dẫn trọng yếu:
Kinh Thánh: Kinh Thánh phục vụ như thẩm quyền cho cả thần học lẫn thực hành thực tiễn của họ. Họ nghiên cứu Kinh Thánh, tìm cái nhìn thấu suốt giúp giải quyết các vấn đề thực tế trong việc nhân bội môn đồ và hội thánh.
Hành Động Và Suy Ngẫm: Với Kinh Thánh trong tay, họ bước vào cánh đồng thực tế, mong chờ Thánh Linh dẫn dắt, hướng dẫn, và định hình kết quả. Zak và các lãnh đạo của anh ra đi tám tiếng mỗi ngày, chia sẻ Phúc Âm, tạo môn đồ, lập Hội Thánh. Mỗi tuần, người phục vụ báo cáo và đánh giá sự tiến bộ.
Thực hành tốt nhất: Họ học hỏi từ các nghiên cứu tình huống ở những thực tiễn khác và cẩn thận áp dụng những bài học. Đây là một quá trình năng động của thử nghiệm và sai sót, kinh nghiệm, và đánh giá.
Có một thời điểm Zak và Mike nhận ra một trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển phong trào: Họ đang tự mình đảm nhận quá nhiều việc lãnh đạo và huấn luyện, nuôi dưỡng sự lệ thuộc hơn là tự lập. Ví dụ, các lãnh đạo tiếp tục đưa tân tín hữu đến Zak làm báp-tem mà sẽ không thể kéo dài nếu phong trào phải phát triển. Zak và Mike đọc Tân Ước với cái nhìn mới và khám phá rằng bất kỳ môn đồ nào cũng có thể làm báp-tem và cử hành Tiệc Thánh Chúa. Chúa Jêsus đã ban mọi môn đồ thẩm quyền để vâng mạng lệnh Ngài gây dựng môn đồ, chứ không chỉ riêng người lãnh đạo được chọn.
Zak và Mike sửa đổi chương trình học của họ để tổng hợp cái nhìn thấu đáo thần học này, cùng những thay đổi cần thiết khác được nhận dạng qua sự đánh giá liên tục về sự lành mạnh và sự phát triển của phong trào. Sau khi cập nhật việc huấn luyện, họ thực hiện trắc nghiệm thực tiễn các phương pháp đã được điều chỉnh. Sự cam kết với việc học liên tục từ thực tiễn đã được đền bù. Đến năm 2015, họ có những người lãnh đạo đang nhân bội Hội Thánh đến mười lăm thế hệ, chủ yếu tại khu vực Trung Phần Java.
Với chiến lược được kiểm chứng thực tiễn, họ bắt đầu mở hội thánh khắp phần còn lại Indonesia bằng cách huấn luyện và gửi nhân sự. Các thành viên trong nhóm được cử đến các tỉnh Aceh, Medan, Java, Sumatra, Sulawesi, và Jakarta. Lợi dụng đòn bẩy ngôn ngữ gần gũi giữa tiếng Indonesia và Mã Lai, họ cũng cử các nhóm ngắn hạn đến làm việc giữa người nói tiếng Mã Lai tại Malaysia, Thái Lan, Singapore, Brunei.
Jakarta
Sau nhiều năm nhân bội tại Trung Phần Java, Zak cưu mang Jakarta, thủ đô quốc gia, trong lòng anh. Thách thức khổng lồ: thành lập cùng nguyên tắc trong một siêu đô thị 30 triệu dân. Anh kiếm người tiên phong cho việc này. Đức Chúa Trời nhắc anh về Usman, một tín hữu và lãnh đạo kinh doanh tại thành phố đó mà đã cùng lớn lên với Zak.
Trong khi Usman đang thăng tiến cao trong kinh doanh, ưu tiên của Zak đã xoay hướng. Zak—người từng cứu Usman khỏi cuộc ẩu đả bằng cách đâm dao vào hung thủ—hiện giờ chỉ tập trung phục vụ Đức Chúa Trời. Anh thách thức Usman: “Chúng ta hãy cùng tiếp cận thế giới qua Phúc Âm cho đến ngày chúng ta chết!” Đó là tất cả gì Zak muốn nói.
Usman quan tâm nhưng không biết phải bắt đầu thế nào. Từ đó về sau, mỗi khi Zak vào thủ đô, anh đưa Usman ra, chia sẻ Phúc Âm và môn đồ hóa.
Zak làm mẫu điều phải làm một hoặc hai lần trước khi bỏ mặc Usman tự làm. Trong một chuyến xe buýt, Usman bắt chuyện với một người lạ nhưng rồi cứng họng, không biết phải nói gì tiếp theo. Anh mong Zak sẽ can thiệp, nhưng Zak không nói gì, cứ để Usman ngồi yên lặng ngượng ngùng.
Zak gửi Usman chuyến đi mười-ngày đến Malaysia để tiếp cận người Mã Lai theo Hồi Giáo. Usman trở về thành một con người khác, sẵn sàng tham gia nhóm Jakarta. Hầu như mỗi ngày anh đều đi ra chia sẻ Phúc Âm và tìm người được Chúa sắm sẵn, trong khi vẫn điều hành công việc kinh doanh của anh lúc rảnh.
Usman áp dụng chiến lược Bất-kỳ-3—bất kỳ ai, bất kỳ nơi, bất kỳ lúc—để chia sẻ với bất kỳ ai anh gặp. Ngày kia, anh gặp vị tướng quân đội bốn sao tại một thương xá. Khi anh chia sẻ, Usman nhận ra đây là Bộ Trưởng Tôn Giáo Indonesia mới được bổ nhiệm!
Khi so với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng ở các làng quê, tăng trưởng ở thành phố như Jakarta là chậm. Tuy nhiên đến nay, các nhóm do Usman huấn luyện đã mở 250 hội thánh, mỗi hội thánh trung bình từ 4 đến 12 người.
Một Lãnh Đạo Phong Trào
Zak rất rõ về khải tượng Chúa cho anh: “Sự kêu gọi của chúng ta phải nhân bội môn đồ và hội thánh khắp Indonesia và Đông Nam Á bằng phương pháp đơn giản, theo Kinh Thánh, dễ tái lập.”
Đó là nhiệm vụ to tát. Có 250 triệu người nói tiếng Mã Lai tại Indonesia và vùng Đông Nam Á. Zak tập trung huấn luyện và dìu dắt các lãnh đạo địa phương và các tác nhân phong trào, bảo đảm rằng họ nhuần nhuyễn các nguyên tắc và kỹ năng tạo nên phong trào.
“Nhân sự chúng tôi không mở hội Thánh,” Zak nói. “Nhân sự mang Phúc Âm đến nơi và dân chưa được tiếp cận, rồi giúp các tân môn đồ mở hội thánh.” Nhóm anh tận hiến nhiều với lý tưởng đó, mất tám tiếng mỗi ngày bước vào những cộng đồng chưa được tiếp cận và chia sẻ Phúc Âm. “Họ không trở về nhà cho đến khi đã chia sẻ Phúc Âm cho năm đến mười người.”
Những tác nhân phong trào gửi báo cáo hằng ngày. Mỗi tuần, họ gặp trực tuyến để đánh giá. Zak duy trì cách tiếp cận kỷ luật này suốt mười hai năm với chín lãnh đạo nòng cốt. Không ai trong họ là ban điều hành được lương. Tất cả là nhân sự cánh đồng thực tiễn. Họ làm việc chăm chỉ. Zak nói, “Họ làm chính điều Mike và tôi đã làm ban đầu.”
Zak làm gương bằng sự tận hiến, mà một thành viên nhóm là Tamir xác nhận: “Zak đòi hỏi rất cao ở chúng tôi, nhưng anh cũng làm việc chăm chỉ. Anh ở cùng chúng tôi. Anh đối diện thách thức y hệt. Anh là người nương cậy Chúa.” Zak đầy hùng hồn chứng minh sự tận hiến của anh trong cuộc khủng hoảng tại Brunei. Sau khi một trong nhóm của họ bị bắt và thẩm vấn, Zak tìm cách xua tan sợ hãi và làm gương trước. Ba ngày sau khi nhóm được trả tự do, anh bay đến Brunei, dù biết công an chắc chắn nhận ra tên anh là người lãnh đạo nhóm. Anh đến thăm các người quen địa phương của nhóm đó, khích lệ nhóm, và chứng tỏ rằng không cần phải sợ hãi công an. Kết quả là, các nhóm tiếp tục đến quốc gia đó. Đáp ứng táo bạo này phản ảnh niềm tin cốt lõi của Zak về sự bắt bớ hiển nhiên: “Đó là cái giá chúng tôi phải trả. Chúng tôi dạy các môn đồ mình chịu khổ vì Đấng Christ.”
Khi Các Phong Trào Lắng Lại, Chúa Can Thiệp
Trong sách Công Vụ, Đức Chúa Trời làm gián đoạn Phi-e-rơ tại nhà Si-môn ở Giốp-bê bằng khải tượng về vật ô uế (Công Vụ 10:9–16). Nhưng chính tại nhà Cọt-nây (Công Vụ 10:28) mà Phi-e-rơ mới hiểu mục đích khải tượng đó: Các môn đồ, dù nhận Đại Sứ Mạng đi đến muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19), đã bỏ mặc mục vụ giữa vòng dân ngoại. Căn cước phong trào truyền giáo của họ đang bị đe dọa. Thánh Linh mở cửa. và Phi-e-rơ là người đầu tiên bước qua đó, với những người khác theo sau.
Khuôn mẫu để điều chỉnh mục vụ tương tự cũng xảy ra qua sự ra đời của phong trào này qua Mike và Zak. Đức Chúa Trời dẫn họ qua một hành trình dài, đầy thử thách để thu hẹp khoảng cách giữa Đại Sứ Mạng và kinh nghiệm của họ. Như Phi-e-rơ, họ là người đặc biệt, nhưng khơi dậy phong trào này thuộc về Đức Chúa Trời. Mike và Zak trung tín với sự kêu gọi họ. Họ trồng và tưới; Đức Chúa Trời làm cho lớn lên.
_________
___________________________
Suy Ngẫm Và Hành Động
Dù chuyện Indonesia độc đáo, bài học về sự nhân bội và lòng kiên trì của nó là phổ quát chung. Đây không là báo cáo truyền giáo. Đây là câu chuyện về Đức Chúa Trời và thể nào Ngài hành động qua những phong trào có kỷ luật, có thể tái lập. Để áp dụng những bài học này, phần này thách thức bạn suy ngẫm về động lực phong trào được trình bày trong câu chuyện và sống thực hành trong chính hoàn cảnh của bạn.
Khi suy ngẫm, hãy nhớ ba yếu tố cốt yếu của phong trào nhân bội:
Căn Cước của phong trào phải phản chiếu đời sống và chức vụ của Chúa Jêsus: vâng phục Lời Cha, nương cậy Thánh Linh. và trung tín với sứ mạng.
Chiến Lược của phong trào phải cung cấp đường lối rõ ràng để bày tỏ Căn Cước đó qua hành động: bước vào, gieo Phúc Âm, môn đồ hóa, lập hội thánh, và nhân bội lãnh đạo.
Phương Pháp của phong trào phải phục vụ cho Chiến Lược của nó và bắt buộc phải: đơn giản, hiệu quả, và lây lan.
Động Lực Của Phong Trào
Phong Trào có khải tượng Đại Sứ Mạng. Mike và Zak cho phép Đại Sứ Mạng thách thức họ và chiến lược họ, từ chối hạ thấp khải tượng xuống ngang bằng kinh nghiệm họ. Căng thẳng giữa khải tượng và thực tế đổ nhiên liệu vào sự học hỏi của họ.
Phong Trào khai thác việc học hỏi từ thực tiễn. Sứ mạng cốt lõi của họ là môn đồ hóa và lập hội thánh giữa những nhóm dân chưa được tiếp cận. Khi Phúc Âm đang tấn tới và dẫn đến có môn đồ nhưng không có hội thánh lành mạnh, họ hỏi: “Tại sao không?” Sự phê bình thực tiễn này giúp nhận ra yếu tố thiết yếu còn thiếu trong chiến lược của họ. Rồi họ tập trung vào việc đơn giản hóa và truyền đạt cách lối hình thành hội thánh. Kết quả là có các thế hệ hội thánh xuyên khắp nhiều nhóm dân khác.
Phong Trào không phụ thuộc cá nhân nào, kể cả người sáng lập. Mike phục vụ như tác nhân từ bên ngoài, hợp tác với Zak, là người sáng lập cũng là hiện thân cho mục đích của phong trào và là người tiên phong lập các chiến lược và phương pháp hiệu quả. Mục tiêu chiến lược của họ luôn bảo đảm rằng phong trào xuất hiện như một lý tưởng, không lệ thuộc bất kỳ cá nhân nào, kể cả những người sáng lập.
Áp Dụng Khuôn Mẫu
Suy Ngẫm
Các phong trào biết được tấm lòng Đức Cha dành cho thế giới hư mất. Họ biến khải tượng tầm-thước-Chúa thành hành động, và việc học hỏi bắt đầu. Đôi khi quá trình ấy mất nhiều năm, nhưng khi các môn đồ bước đi, Chúa Jêsus hứa ở cùng họ. Mike và Zak đã đi hành trình này. Họ đã kiên trì trong những lúc tuột dốc và đã chứng kiến sự bứt phá. Họ đã học những bài học, và giờ đây có một phong trào nhân bội có sự sống riêng của nó.
Hành Động
Hãy mô tả khải tượng Đại Sứ Mạng của bạn trong việc nhân bội môn đồ và hội thánh.
Hãy xem lại lịch trình của bạn trong tháng qua. Thể nào bạn đã biến khải tượng ấy thành hành động?
Điều gì bạn cần làm để ăn khớp đời mình với khải tượng mà Chúa ban cho bạn?
_______________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________